Showing posts with label xuất khẩu. Show all posts
Showing posts with label xuất khẩu. Show all posts

Sunday, April 12, 2015

Một mắc-ca đang “xấu xí”: 20 năm, Bộ ở đâu?

Được xem là “nữ hoàng của các loại hạt khô”, nhưng hình ảnh của mắc-ca gần đây bỗng nhiên trở nên “xấu xí” tại Việt Nam...

Một sản phẩm mắc-ca đã qua chế biến của Công ty Cổ phần Vinamacca tại Tây Nguyên.

Như một bài viết gần đây trên VnEconomy, sau 11 năm từ chính sách và nguồn giống thí điểm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, gia đình ông Đinh Kim Thu (thôn Lộc Xuân, xã Phú Lộc, huyện Krông Năng, tỉnh Đắc Lắc) đã làm giàu được. Nhưng, bền vững hay không còn khó nói…

Tham gia chương trình thí điểm, trên diện tích 0,5 ha, vườn ông Thu có 100 cây mắc-ca trên 10 tuổi. Có loại cho bình quân 17 kg quả mắc-ca/cây, có loại lên tới khoảng 50 kg/cây. Tổng thu năm 2014 đạt tới 300 triệu đồng, trong đó chi phí chỉ mất khoảng 10%.

Hiện tại, đây là một mô hình thành công. Nhưng tính bền vững còn khó nói, do cách làm và thị trường có thể thay đổi trong tương lai.

Chưa được chuẩn hóa

Khảo sát của VnEconomy tại vườn ông Thu cho thấy, loại giống cho tới khoảng 50 kg quả mắc-ca/cây là giống OC. Gia đình ông có xu hướng chọn lọc và đi theo loại giống này, vì năng suất vượt trội.

Tuy nhiên, điểm hạn chế của loại giống OC là khó thu hoạch, dẫn đến chi phí nhân công cao nếu trồng diện rộng. Đặc biệt, nhân hạt mắc-ca loại này nhỏ, vỏ lại dày hơn các loại khác.

Khi mà thị trường mắc-ca Việt Nam còn nhập nhèm, đa số người tiêu dùng chưa phân biệt rõ các dòng sản phẩm, việc mua bán chủ yếu tính theo trọng lượng, thì năng suất của giống OC được nhiều chủ vườn ưa thích.

Thế nhưng, tại cuộc họp Ban Chỉ đạo dự án phát triển mắc-ca Lâm Đồng ngày 8/4 vừa qua, có một quan điểm được xác định ngay từ đầu: không tiến hành phát triển giống OC.

Một mặt, loại giống này khó thu hoạch dẫn tới chi phí nhân công cao; mặt khác, trong tương lai, khi sự phân biệt về chất lượng rõ ràng hơn, nhất ở ở các thị trường xuất khẩu khắt khe, sản phẩm từ nguồn OC (xuất xứ từ Trung Quốc) sẽ rất khó cạnh tranh, khó được giá.

Dù sao, mắc-ca từ giống OC cũng là một sản phẩm điển hình, được thị trường chấp nhận khi sản xuất đúng tiêu chuẩn. Còn trên thị trường hiện nay, loại quả này đang khoác một chiếc áo “xấu xí” trong mắt người tiêu dùng, vì thiếu tổ chức và chuẩn hóa từ gốc.

Theo phản ánh của một số thương lái tại Lâm Đồng, ngay người dân khi thu hoạch cũng không ý thức để phân loại rõ loại quả hạt nhăn và quả trơn, dù chúng rất khác nhau về chất lượng khi dùng: loại nhăn chế biến thành sản phẩm tốt, loại trơn chủ yếu ép lấy dầu.

Sự lẫn lộn đó trôi nổi trên thị trường có thể khiến nhiều người tiêu dùng ban đầu nhầm tưởng mắc-ca là “xấu xí”, khi dùng loại quả trơn kém chất lượng.

Chưa hết, do được khía vỏ khi chế biến để tiện dùng, việc chế biến và bảo quản không đúng tiêu chuẩn dễ dẫn đến tình trạng ẩm mốc, hạt đổi màu, không giữ được hương vị và chất lượng…, khiến loại hạt này càng “xấu xí” hơn trong mắt người tiêu dùng chưa rành.

Về giá, mắc-ca tại Việt Nam cũng trở nên thiếu thiện cảm vì “ở trên trời” và có tình trạng loạn giá thời gian gần đây.

Tại vườn, một số hộ dân bán nguyên liệu quả tươi từ 100.000 - 120.000 đồng/kg, có nơi hét tới 300.000 đồng/kg, thậm chí tới 500.000 đồng/kg kiểu hàng chọn…

Loại quả có vỏ đã khứa có từ 250.000 - 300.000 đồng/kg, nhưng cũng có đầu mối áp tới 400.000 - 500.000 đồng/kg. Loại nhân hạt có từ 800.000 - 900.000 đồng/kg…

Với chất lượng không đồng đều, thậm chí có những loại kém chất lượng, giá bán lại quá cao, khiến mắc-ca trở thành món hàng xa xỉ đối với đại chúng. Và nếu nhiều người quay lưng với thực trạng đó thì cũng dễ hiểu.

Hiện Việt Nam chưa có một thị trường sản phẩm mắc-ca đúng nghĩa. Nó chưa được chuẩn hóa từ gốc: chọn lọc giống, tạovùng chuẩn nguyên liệu, tổ chức chế biến và kiểm soát chất lượng đầu ra; lượng hàng khan hiếm dẫn tới bị làm giá và giá ảo.

20 năm, Bộ ở đâu?


Bắt đầu từ năm 1994, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chính thức bắt tay vào quá trình thí điểm và khảo nghiệm mắc-ca tại Việt Nam.

Và sau 20 năm, Bộ có trong tay 10 loại giống và… 35 ha trồng thử nghiệm rải rác tại 16 tỉnh.

Thế nhưng, mất tới 20 năm nghiên cứu và khảo nghiệm, cùng không ít tiền ngân sách chi ra, để rồi đến ngày 6/4 vừa qua, khi báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho hay, vẫn chưa tìm đủ “căn cứ khoa học” để phê duyệt quy hoạch phát triển cây mắc-ca.

Điều ngạc nhiên là, cũng trong báo cáo đó và trong công văn gửi UBND các tỉnh, dù “chưa đủ căn cứ khoa học”, Bộ lại xác định rõ rằng, từ nay đến năm 2020 tổng diện tích mắc-ca cả nước chỉ khoảng 10.000 ha mà thôi.

Mặc dù thực tế thì rất khác. Cũng theo báo cáo của Bộ, đến nay nhiều hộ dân và doanh nghiệp cũng tự làm mắc-ca, và họ đã có tới 1.923 ha, chủ yếu ở Tây Nguyên với 1.645 ha.

Và theo kế hoạch dự kiến, chỉ riêng đề án quy hoạch gần 14.000 ha của tỉnh Đắc Nông, 22.000 ha của tỉnh Lâm Đồng…, cũng như của một số doanh nghiệp lớn như Công ty Cổ phần Thương mại Đầu tư và phát triển công nghệ Quốc tế (IDT), Công ty Cổ phần Him Lam…, thì quy mô dự tính khoảng 10.000 ha của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã trở nên lỗi thời, dù mới nằm trên giấy.

Nếu như Bộ mất tới 20 năm với 35 ha để rồi “chưa đủ căn cứ khoa học”, thì nhiều hộ dân và doanh nghiệp đã phát triển hàng nghìn ha, nhiều mô hình đã thành công về sản lượng và doanh thu, đã được kiểm chứng thực tế những năm gần đây.

Tuy nhiên, với thị trường và trong mắt người tiêu dùng, một mắc-ca “xấu xí” nói trên đang tồn tại, rồi tình trạng loạn giá và loạn cây giống, rồi chuyện người dân “khóc ròng” đốn mắc-ca vì không có quả…

Vậy nên, sau khi đã mất 20 năm, đến khi nào hoạt động trồng và sản xuất mắc-ca tại Việt Nam mới thực sự được tổ chức, được chuẩn hóa; thị trường mắc-ca Việt Nam mới thực sự được tạo lập và bảo đảm lợi ích người tiêu dùng?

Ngày 8/4 vừa qua, UBND tỉnh Lâm Đồng đã họp Ban Chỉ đạo dự án phát triển mắc-ca, phối hợp với Công ty Cổ phần Him Lam, để bàn về hướng quy hoạch dự kiến khoảng 22.000 ha mắc-ca.

Cuộc họp này là một tín hiệu cụ thể cho yêu cầu chuẩn hóa việc trồng, chế biến và tạo thị trường mắc-ca tại Việt Nam. Trong đó, doanh nghiệp đứng ra đảm bảo tiêu chuẩn giống, kỹ thuật trồng và chăm sóc, bao tiêu, chế biến và tổ chức thị trường, hỗ trợ vốn và mua bảo hiểm rủi ro cho các hộ dân tham gia.

Đáng chú ý, tại cuộc họp trên, Lâm Đồng cũng đã xác định phải xây dựng thương hiệu cho mắc-ca địa phương mình.

Thương hiệu đó là sự cam kết với người tiêu dùng, để họ không quay lưng với một mắc-ca bị nhầm tưởng là “xấu xí” vì chưa chuẩn hóa và thiếu tổ chức.

(Vneconomy) 

Monday, March 23, 2015

Vingroup chính thức nhảy vào nông nghiệp

Một thông báo vừa phát đi từ Vingroup cho biết tập đoàn này chính thức gia nhập lĩnh vực nông nghiệp, với thương hiệu VinEco. 
Nông sản của VinEco sẽ đi theo hệ thống siêu thị Vinmart và cửa hàng tiện lợi Vinmart+.
Theo đó, sứ mệnh của VinEco là "cung cấp nguồn thực phẩm sạch, an toàn vì sức khỏe của người dân Việt và các thế hệ tương lai, tiến tới việc đưa một số nông sản thế mạnh Việt Nam ra thế giới".

Công ty VinEco có số vốn điều lệ 2.000 tỷ đồng, sẽ triển khai các hoạt động nông nghiệp tại nhiều địa phương trên cả nước, trong đó, tập trung bước đầu vào lĩnh vực trồng trọt, áp dụng các công nghệ và kỹ thuật tiên tiến để cung cấp rau quả hữu cơ và rau quả sạch cho thị trường, theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP.

Nguồn tin từ Vingroup cho biết, để đảm bảo chất lượng, VinEco quy hoạch các vùng sản xuất theo mô hình tập trung và khép kín. Các khâu từ nghiên cứu, công nghệ giống, sản xuất, thu hoạch, bảo quản sau thu hoạch đến chế biến, vận chuyển… sẽ được thực hiện theo quy trình khoa học, tuân thủ các tiêu chí về chất lượng và an toàn, vệ sinh thực phẩm.

Đồng thời, nhờ triển khai trên quy mô lớn và được đầu tư bài bản, VinEco có điều kiện đưa các loại máy nông nghiệp hiện đại vào quy trình sản xuất nhằm tối ưu hiệu quả và đảm bảo chất lượng nông sản. Dự kiến, công ty này sẽ làm việc với các đối tác từ các nền nông nghiệp nổi tiếng thế giới như Israel, Nhật Bản, Hà Lan… để nhận tư vấn và chuyển nhượng công nghệ, kỹ thuật, giống và thiết bị nông nghiệp.

Lao động địa phương cũng sẽ được VinEco tuyển dụng và đào tạo để phát triển một đội ngũ công nhân nông nghiệp chuyên môn cao và có khả năng ứng dụng các công nghệ trồng trọt tiên tiến nhất.

Về đầu ra, theo Vingroup, nông sản của VinEco sẽ đi theo hệ thống siêu thị Vinmart và cửa hàng tiện lợi Vinmart+ đang được “phủ sóng” toàn quốc, nhằm khép kín chu trình từ khâu gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, vận chuyển đến bán lẻ, vừa tối ưu về giá thành vừa đảm bảo chất lượng nông sản. Tuy nhiên, công ty cũng sẽ cung cấp cho các đối tác khác.

Bên cạnh sản phẩm rau quả sạch, VinEco cũng sẽ sản xuất các sản phẩm rau quả hữu cơ; đồng thời đi sâu nghiên cứu và sản xuất một số loại nông sản thế mạnh của Việt Nam, hướng tới xuất khẩu.

Theo Vneconomy

Wednesday, February 4, 2015

20.000 tỷ đồng vào mắc-ca: “Không ai làm thì tôi cũng tự trồng”

Người trực tiếp xây dựng và triển khai nói gì về triển vọng phát triển cây mắc-ca tại Tây Nguyên?...
Ông Nguyễn Đức Hưởng, Phó chủ tịch Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank).
Tháng 4 năm ngoái, ông Nguyễn Đức Hưởng, Phó chủ tịch Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank), lần đầu tiên nói về kế hoạch đầu tư phát triển cây mắc-ca tại Tây Nguyên, với quy mô dự kiến ban đầu khoảng 10.000 tỷ đồng.

Đến đầu tuần này, hai đối tác triển khai đề án, Công ty Cổ phần Him Lam và LienVietPostBank, cho biết đã khảo sát và có thể mở rộng quy mô đầu tư phát triển mắc-ca, với số vốn dự kiến trên 20.000 tỷ đồng.

Ông Nguyễn Đức Hưởng, người có ý tưởng và trực tiếp xây dựng đề án, vừa có cuộc trao đổi với VnEconomy.

Muốn cho dân vay để trồng loại cây này
Thưa ông, từ năm ngoái, khi có thông tin về kế hoạch đầu tư nói trên, cũng đã có những hoài nghi... Nói một cách dân dã thì có phải là “chém gió” không?

Cũng dễ hiểu thôi. Trước đây nếu là tôi, nghe ai đó nói một kế hoạch như vậy thì tôi cũng nghĩ là “chém gió”. Vì nó còn mới quá, và chưa thấy thực tiễn tại Việt Nam. Ngay cả khi triển khai thì cũng phải mất 5-7 năm mới chứng minh được.

Năm ngoái, sau khi có kế hoạch trên, LienVietPostBank và Him Lam đã tổ chức nghiên cứu, thuê chuyên gia nước ngoài cùng làm, xây dựng quy trình cụ thể. Chúng tôi đã đề xuất với Ban Chỉ đạo Tây Nguyên tổ chức một hội thảo chuyên đề về phát triển loại cây này vào ngày 7/2 tới tại Đà Lạt để cùng thảo luận sâu hơn.

Vậy ý tưởng phát triển cây mắc-ca quy mô lớn tại Việt Nam có từ khi nào và bắt đầu như thế nào, thưa ông? Hay vì sao đến lúc này mới “nhìn thấy” loại cây này?

Cá nhân tôi đi công tác nước ngoài, thấy người ta dùng nhiều loại hạt này. Tìm hiểu kỹ thì thấy giá trị của nó và nhận thấy thực tế ở ta đã thí điểm thành công rồi, nhất là tại Tây Nguyên.

Tôi cũng đã gặp các đối tác là doanh nghiệp ngành thực phẩm bánh kẹo, dược mỹ phẩm. Họ lại đang đi tìm loại nguyên liệu này. Cung trong nước rất hạn chế, mà chủ yếu là nhập khẩu.

Trong khi đó, đất và điều kiện tự nhiên phù hợp với mắc-ca thì Việt Nam có. Cứ như trời cho vậy. Cho nên nếu không ai làm thì tôi cũng tự trồng. Ngay cá nhân tôi cũng đã đi tìm đất để tự mình làm.

Ý tưởng đó có cách đây hai năm rồi.

Là người làm ngân hàng, có vẻ như ngoại đạo khi ông và LienVietPostBank tập trung vào phát triển cây mắc-ca với quy mô dự kiến lớn như vậy?

Từ trước đến giờ chúng tôi luôn xác định nông dân là đối tượng khách hàng rất tốt cho ngân hàng. Chúng tôi đang cho vay trồng lúa, chăn nuôi, kể cả trồng cà phê. Nên với chúng tôi, làm mắc-ca là đúng việc.

Chúng tôi muốn mọi người quan tâm hơn đến nó, vì nó còn rất mới, làm sao để người dân đến với nó nhanh hơn, thành công đến nhanh hơn và họ đỡ vất vả hơn.

Ở khía cạnh sự tham gia của ngân hàng, tiềm năng như thế nào, thưa ông?

Mục tiêu của đề án là tạo công ăn việc làm, đổi mới cách làm, tạo hiệu quả kinh tế cao hơn cho người nông dân. Như tôi nói ở trên, họ là các khách hàng gần gũi của LienVietPostBank; họ làm ăn hiệu quả thì hoạt động cho vay của ngân hàng sẽ thuận lợi.

Chúng tôi sẽ tiên phong đứng ra xin đất làm giống, đầu tư giống, qua quy hoạch của địa phương, rồi hỗ trợ vốn trung dài hạn cho các hộ dân trồng loại cây này. Nếu có đất đai tốt, chúng tôi sẽ tổ chức trồng tập trung riêng.

Chúng tôi muốn cho dân vay để trồng loại cây này, cho vay trung dài hạn 7-10 năm. Theo tính toán thì đến năm thứ 7 là nông dân đã có thể thu hồi xong vốn và có lãi. Nó bền vững và điều này cần cho ngân hàng.

Còn tiềm năng của cây mắc-ca tại Việt Nam, hay tính khả thi của đề án, rồi vấn đề đầu ra nữa?

Việt Nam gần như chưa có sản phẩm mắc-ca để bán. Bởi, các hãng thực phẩm, bánh kẹo, mỹ phẩm đã mua sạch nguyên liệu rồi. Trên thế giới, các thống kê cho thấy nhiều năm rồi cung vẫn không đáp ứng đủ cầu.

Với chúng tôi, trước mắt chưa tính đến xuất khẩu, chỉ riêng đáp ứng trong nước đã đủ rồi.

Ở Việt Nam, có ba địa phương phù hợp nhất cho cây mắc-ca, với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng, là Đà Lạt, Đắc Nông và Kon Tum. Khu vực Tây Bắc cũng có thể, nhưng mưa hơi nhiều và sương muối… và vẫn phải thí điểm tiếp. Còn Tây Nguyên thì triển khai được rồi.

Tây Nguyên hiện có cây cà phê là chủ lực, nhưng phần lớn đã già cỗi, khoảng 60-70% đang đứng trước yêu cầu tái canh. Tuy nhiên, hiện nay chủ trương, quy hoạch và nguồn vốn cho tái canh cây cà phê vẫn nhiều vướng mắc.

Cây mắc-ca có thể thay thế cây cà phê hoặc trồng xen cũng được. Đưa mắc-ca vào, vẫn trồng cà phê bình thường, hai cây bổ trợ cho nhau. Cũng lưu ý là cây mắc-ca có thể cho khai thác tới 60 năm.

Dù cũng có những khó khăn nhất định! Tâm lý người dân, bỏ cây cà phê già cỗi dù vẫn đang cho thu hoạch, thay cây mới và chờ 4-5 năm nữa mới thu hoạch thì người ta khó làm. Nhưng nếu cứ thế này thì 4-5 năm nữa cây cà phê thoái hóa là trắng tay không có gì.

Tây Nguyên có khoảng 5 triệu ha cây công nghiệp, có thể trồng xen 1 triệu ha mắc-ca. Có thể trồng ngay được 250 nghìn ha, mà chừng đó thì cũng mới chỉ đáp ứng được nhu cầu trong nước, thay thế hàng nhập khẩu, phục vụ cho các ngành chế biến thực phẩm, bánh kẹo, mỹ phẩm…

Trong hội thảo tới, chúng tôi sẽ mời các doanh nghiệp, chuyên gia Nhật Bản. Trong các đợt tham khảo ở nước ngoài, khi đặt vấn đề hợp tác khép kín từ trồng vùng nguyên liệu đến bao tiêu sản phẩm, thì họ đồng ý làm ngay.

Lợi thế trời cho


Triển vọng là vậy, nhưng liệu có tình huống nào đó ngoài mong muốn trong tương lai, tương tự như chuyện người dân đốt mía, chặt sắn, cao su, đổ sữa… không, thưa ông?

Chúng tôi đã tính toán, từ bây giờ cho đến khi tạo được vùng nguyên liệu 500 đến 1 triệu ha thì mới chỉ đủ đáp ứng nhu cầu trong nước thôi. Nếu trồng được quy mô đó, Tây Nguyên sẽ trở thành thủ phủ mắc ca của Đông Nam Á.

Trên thế giới cũng mới chỉ có một số vùng chủ yếu như Nam Phi, Hawaii, Úc, một phần Vân Nam Trung Quốc… Thế giới vẫn mất cân đối cung - cầu, mà các khu vực có điều kiện tự nhiên để trồng và có được chất lượng hạt mắc-ca tốt không nhiều. Loại cây này kén thổ nhưỡng, khí hậu, chứ không phải muốn đại trà là được.

Như tôi nói, Tây Nguyên có được điều kiện tự nhiên rất phù hợp. Đó là lợi thế trời cho.

Còn về quy mô vốn, ông nói gì về năng lực của Him Lam và LienVietPostBank?

Khi có ý tưởng và xây dựng đề án, chúng tôi dự tính quy mô vốn cần cho đề án khoảng 10.000 tỷ đồng. Bởi lượng vốn đầu tư ban đầu cũng không quá nhiều.

Qua quá trình khảo sát, đánh giá tiềm năng của loại cây này, khi nó thu hút được sự tham gia của người dân, chúng tôi có thể đầu tư khoảng 20.000 - 25.000 tỷ đồng, trải ra trong khoảng 5 năm.

Quy mô đó là bình thường. Chúng tôi làm rồi. Không tổ chức nào tham gia thì cá nhân chúng tôi cũng vẫn làm.

Liệu có sự đặt cược hay mạo hiểm ở đây không?

Tất nhiên khi bỏ tiền ra thì phải đánh giá trước những dấu hiệu tiền quay trở lại. Nếu xem đó là đặt cược hay có mạo hiểm thì chúng tôi sẵn sàng. Nhưng tôi xem không có đặt cược ở đây, mà là cơ hội cần nắm lấy.

Còn với người dân, khi khảo sát và đi vào thực tế, ông có thấy họ e ngại hoặc hoài nghi không?

Tôi nhận thấy họ đang háo hức, vì thời gian thử nghiệm đã qua rồi. Người ta thấy các mô hình thành công rồi, nhưng chưa có ai đứng ra hô để làm, để có quy hoạch và tổ chức thực sự, mà đang tự phát.

Đúng ra chúng ta phải có chiến lược để hỗ trợ nông dân trước thực tế cây công nghiệp đang già cỗi. Trong khi đó, Tây Nguyên có được điều kiện tự nhiên trời cho, phải nắm lấy lợi thế đó.
Vneconomy

Wednesday, December 24, 2014

10 mặt hàng nông sản xuất khẩu tỷ đô

Năm 2014, trong tổng số 30,86 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản có 10 mặt hàng đóng góp kim ngạch trên 1 tỷ USD, đó là: gạo, cà phê, cao su, điều, tiêu, sắn, rau quả, tôm, cá tra, lâm sản. 
 
Tôm 

Năm nay tôm là mặt hàng đặc biệt được giá, đem lại siêu lợi nhuận và là nguồn thu kim ngạch đáng kể (gần 4,0 tỷ USD). Tính đến trung tuần tháng 11/2014 mặt hàng tôm vẫn duy trì được nhịp độ tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2013 với mức tăng chung tới 32,9%, đạt giá trị 3,51 tỷ USD, chiếm trên 50% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản đến nửa đầu tháng 11 năm 2014.

Riêng tăng trưởng xuất khẩu tôm chân trắng vẫn đạt mức cao, tăng 57,1% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 2,05 tỷ USD đến ngày 15/11, trong khi đó xuất khẩu tôm sú duy trì mức tăng nhẹ (6,4%), đạt giá trị trên 1,2 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng mạnh của mặt hàng tôm đã góp phần quan trọng để duy trì nhịp độ tăng trưởng khá trong xuất khẩu thủy sản của toàn ngành.

Cá tra 

Tổng giá trị xuất khẩu mặt hàng cá tra cả năm 2014 vào khoảng 1,8 tỷ USD, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2013. Cá tra hiện vẫn duy trì đứng ở vị trí thứ 2 sau tôm, chiếm 21,8% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.

Giá trị xuất khẩu sang 2 thị trường xuất khẩu lớn nhất là EU và Mỹ đều lần lượt tăng 31,4% và giảm 7% so với nửa đầu tháng 11 năm 2013. Nếu nửa đầu tháng 11 năm 2013, riêng 2 thị trường này chiếm tới 39,3% tổng giá trị xuất khẩu thì nay giảm còn 35,5%.

Tính từ đầu năm đến 15/11/2014, giá trị xuất khẩu mặt hàng này sang ASEAN và Brazil lần lượt tăng trưởng 11,1% và 14,2% so với cùng kỳ năm 2013.

Gạo 

Ước năm nay nước ta xuất khẩu được 6,52 triệu tấn gạo với giá trị xuất khẩu là 3,04 tỷ USD, tương đương lượng xuất khẩu năm 2013 nhưng lại tăng 1,9% về giá trị so với năm 2013. Giá gạo xuất khẩu bình quân 11 tháng đầu năm 2014 đạt 463 USD/tấn, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2013.

Thị trường lớn nhất trong 11 tháng đầu năm 2014 là Trung Quốc với 31,1% thị phần. Đáng chú ý nhất là thị trường Philippin có sự tăng trưởng đột biến trong 11 tháng đầu năm với mức tăng gấp 3,68 lần về khối lượng và gấp 3,74 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2013.

Với mức tăng trưởng này, Philippin vươn lên vị trí đứng thứ 2 về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam, chiếm 21,38%, tiếp đến là Malaysia, Gana và Indonesia, chiếm thị phần lần lượt là 7,38%; 5,9% và 5,13%.

Cà phê 

Kim ngạch xuất khẩu cà phê năm 2014 ước đạt 3,62 tỷ USD, tăng 33,4% về khối lượng và tăng 33,2% về giá trị so với năm 2013. Giá cà phê xuất khẩu bình quân 11 tháng đầu năm đạt 2.096 USD/tấn, tương đương so với năm 2013.

Đức và Hoa Kỳ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam trong 11 tháng đầu năm 2014 với thị phần lần lượt là 13,65% và 10,2%. Thị trường Bỉ có tốc độ tăng mạnh nhất, gấp 2,57 lần về khối lượng và gấp 2,4 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2013.

Cao su 

Cả năm 2014 xuất khẩu cao su ước đạt 1,07 triệu tấn với giá trị đạt 1,8 tỷ USD, tăng 0,2% về khối lượng nhưng lại giảm 27,7% về giá trị so với năm 2013. Giá cao su xuất khẩu bình quân 11 tháng đầu năm 2014 đạt 1.695 USD/tấn, giảm 27,3% so với cùng kỳ năm 2013.

Mặc dù Trung Quốc và Malaysia vẫn duy trì là thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam trong 11 tháng đầu năm 2014, nhưng lại có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm 2013, cụ thể: Trung Quốc giảm 5% về khối lượng và giảm 30% về giá trị; Malaysia giảm 7% về khối lượng và giảm 37% về giá trị.

Điều

Năm nay ngành điều xuất khẩu khoảng 306 nghìn tấn với 2 tỷ USD kim ngạch, tăng 17,4% về khối lượng và tăng 21,9% về giá trị so với năm 2013. Giá hạt điều xuất khẩu bình quân 11 tháng đầu năm 2014 đạt 6.553 USD/tấn, tăng 3,81% so với cùng kỳ năm 2013.

Hoa Kỳ, Trung Quốc và Hà Lan vẫn duy trì là 3 thị trường nhập khẩu điều lớn nhất của Việt Nam chiếm lần lượt 32,5%, 15% và 11,23% tổng giá trị xuất khẩu.

Tiêu

Khối lượng xuất khẩu tiêu cả năm 2014 vào khoảng 158.000 tấn với giá trị 1,2 tỷ USD, tăng 19,3% về khối lượng và tăng 35,9% về giá trị so với năm 2013. Giá tiêu xuất khẩu bình quân 11 tháng đầu năm 2014 đạt 7.679 USD/tấn, tăng 14,76% so với cùng kỳ năm 2013.

Xuất khẩu tiêu sang thị trường Hoa Kỳ, Singapore, Tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất, Ấn Độ và Hà Lan - 5 thị trường lớn nhất nhất của Việt Nam trong 11 tháng đầu năm 2014 chiếm 50% tổng xuất khẩu của mặt hàng này. Thị trường Hoa Kỳ tăng 21,7% về khối lượng và tăng 37,8% về giá trị; Singapore tăng 47% về khối lượng và 84,3% về giá trị, Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất tăng 33% về khối lượng và tăng 56,5% về giá trị. Thị trường Ấn Độ tăng 88% về khối lượng và 2,19 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2013.

Sắn 

Năm nay mặt hàng sắn xuất khẩu ước đạt 3,3 triệu tấn với giá trị đạt 1,12 tỷ USD, tăng 5,4% về khối lượng và 2,6% về giá trị so cùng kỳ năm 2013. Trong 10 tháng đầu năm 2014, giá trị xuất khẩu sắn và các sản phẩm sắn sang hầu hết các thị trường lớn đều tăng, ngoại trừ thị trường

Hàn Quốc và Đài Loan. Trung Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu sắn và các sản phẩm sắn lớn nhất của Việt Nam với 84,27% thị phần.

Rau quả 

Với tốc độ tăng trưởng cao như hiện nay (tăng 34,9%), xuất khẩu rau quả có thể mang về cho Việt Nam khoảng 1,47 tỷ USD. Đây là con số cao nhất từ trước đến nay. Tính đến hết quý III năm 2014, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc vẫn là ba thị trường lớn nhập khẩu mặt hàng rau quả của Việt Nam.

Về tăng trưởng kim ngạch, có 2 thị trường có sự tăng trưởng đột biến là Hong Kong và Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất. Việc hầu hết các thị trường đều có sự tăng trưởng dương, cho thấy mặt hàng rau quả Việt Nam có nhiều cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu sang các nước trên thế giới.

Đáng lưu ý, thị trường phía Mỹ đã mở cho ta xuất khẩu thanh long, chôm chôm, nhãn và vải thiều.

Lâm sản 

Giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ năm 2014 ước đạt 6,54 tỷ USD, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm 2013. 11 tháng đầu năm, xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ sang hầu hết các thị trường chính đều tăng, ngoại trừ thị trường Trung Quốc giảm 13,35%; Hoa Kỳ và Nhật Bản có mức tăng trưởng lần lượt là 12,47% và 17,06% so với cùng kỳ năm 2013.

Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản - 3 thị trường nhập khẩu gỗ lớn nhất của Việt Nam trong 11 tháng đầu năm 2014 - chiếm 66,21% tổng giá trị xuất khẩu của mặt hàng này.
 Nông Nghiệp Việt Nam

Wednesday, December 17, 2014

Cổ phiếu cần quan tâm ngày 18/12

Đầu tư Chứng khoán trích báo cáo phân tích một số cổ phiếu cần quan tâm trước phiên 18/12 của các công ty chứng khoán.

PLC: Khuyến nghị mua mạnh

CTCK BIDV (BSC)

Khuyến nghị MUA MẠNH cổ phiếu PLC với giá kỳ vọng 12 tháng là 42,150 đồng/cp theo phương pháp FCFF (upside 28%). Bên cạnh đó, PLC là một trong số những cổ phiếu được hưởng lợi trực tiếp từ xu hướng giảm giá dầu. 

PLC là doanh nghiệp kinh doanh các sản phẩm hóa dầu hàng đầu tại Việt Nam với 3 ngành hàng chính là (1) dầu mỡ nhờn- thị phần chiếm 16-18%; (2) nhựa đường- thị phần chiếm 40%; (3) hóa chất- thị phần chiếm 25-30%. Kết quả kinh doanh của PLC đã tăng trưởng mạnh trong 9 tháng đầu năm 2014 nhờ đóng góp chủ yếu của mảng nhựa dường và đây cũng là trọng tâm sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng của doanh nghiệp trong các năm tới. 

Kỳ vọng PLC sẽ tăng trưởng mạnh từ 2014-2015 nhờ những yếu tố sau: 

Sản lượng tiêu thụ nhựa đường được dự báo tăng mạnh, đặc biệt là các sản phẩm nhựa đường cao cấp có biên lợi nhuận cao nhờ việc đẩy mạnh các công trình giao thông trọng điểm trong giai đoạn 2015-2020. 

Bên cạnh đó, theo dự báo của Morgan Stanley, giá dầu sẽ tiếp tục giảm xuống 43 USD/thùng trong nửa đầu năm 2015. Nhờ vậy, giá hàng hóa và nguyên liệu đầu vào của PLC có thể giảm mạnh trong khi giá bán các sản phẩm dầu mỡ nhờn của PLC lại tăng 4-7% từ tháng 10/2014 và giá nhựa đường chưa có dấu hiệu suy giảm. Do đó, chúng tôi dự báo biên lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ được cải thiện. 

Tỷ lệ chi trả cổ tức tăng lên 30%: với kết quả kinh doanh khả quan của năm 2014, doanh nghiệp dự kiến sẽ nâng tỷ lệ chi trả cổ tức từ 15% lên 30% bằng tiền mặt . Việc điểu chỉnh tỷ lệ trả cổ tức sẽ được thông qua sau khi lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản trong tháng 12/2014. Đồng thời, trong tháng 12/2014, doanh nghiệp cũng thực hiện tạm ứng 10% cổ tức bằng tiền mặt lần thứ nhất năm 2014.
Dự kiến tăng vốn điều lệ lên 1,000 tỷ đồng: theo thông điệp của Chủ tịch Hội đồng Quản trị, doanh nghiệp dự kiến sẽ tăng vốn chủ sở hữu lên trên 1,500 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư của chủ sở hữu trên 1,000 đồng. 

Dự báo kết quả kinh doanh doanh năm 2014: BSC dự báo PLC sẽ đạt khoảng 7327 tỷ đồng doanh thu thuần và 300 tỷ lợi nhuận sau thuế, tương đương EPS 2014 đạt 4266 đồng/cổ phiếu. Như vậy, cổ phiếu PLC hiện đang được giao dịch với P/E FW 2014 khoảng 8.44- mức P/E khá hâp dẫn đối với một cổ phiếu có tính thanh khoản tốt và kỳ vọng tăng trưởng nhanh. 

HPG: Lạc quan về triển vọng kinh doanh

CTCK MB (MBS)

HPG công bố sản lượng thép xây dựng tiêu thụ khả quan. Theo đó, trong 11 tháng đầu năm, sản lượng thép xây dựng của HPG đạt mức 895 nghìn tấn, tăng 41% so với cùng kỳ, tương đương với 99% sản lượng tiêu thụ kế hoạch đã đạt ra từ đầu năm. Thị phần thép xây dựng của HPG tăng lên mức 18.9% trong tháng 11.

Riêng tháng 11, thép xây dựng của Hòa Phát tiêu thụ được 96,563 tấn, tăng 34,6% so với cùng kỳ. Về hoạt động xuất khẩu thép, Hòa Phát vẫn đều đặn xuất thép cuộn sang thị trường Australia, Lào và đang xúc tiến thêm thị trường một số nước khác trong khối ASEAN.

Nền kinh tế tiến triển khả quan và thị trường bất động sản phục hồi khiến nhu cầu thép xây dựng tiếp tục tăng trưởng tốt. Theo Hiệp hội thép Việt Nam, hoạt động bán hàng thép xây dựng trong 11 tháng qua của các thành viên VSA đạt 4,7 triệu tấn, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước.

Ngày 16/11/2014, Công ty đã hoàn thành việc đại tu và nâng cấp khu vực lò cao số 1 của Khu liên hợp gang thép Hòa Phát. Công suất lò đã được nâng từ 350.000 tấn lên tối đa 450.000 tấn/năm, tăng 20% công suất so với trước đây. Tổng chi phí của đợt đại tu, nâng cấp thiết bị lò cao 1 khoảng 200 tỷ đồng.

Chúng tôi vẫn duy trì đánh giá lạc quan đối với triển vọng kinh doanh của HPG trong các quý tới khi Công ty tiếp tục tăng trưởng thị phần nhờ lợi thế cạnh tranh vượt trội so với các Công ty trong  ngành.
Theo Đầu Tư Chứng Khoán

Monday, December 8, 2014

Sức khỏe doanh nghiệp tại Việt Nam: Hai nửa sáng tối

Hoạt động của doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước tiếp tục trong tình trạng khá tương phản...
Công bố báo cáo về tình hình kinh tế Việt Nam sáng 3/12, Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam (World Bank) dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam sẽ tăng nhẹ từ mức 5,4% năm 2013 lên 5,6% năm 2014.

Đáng chú ý là theo World Bank, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp trong nước vẫn tiếp tục trong tình trạng khá tương phản, trong quá trình phục hồi kinh tế.

Cụ thể, số lượng doanh nghiệp trong nước đóng cửa hoặc tạm ngừng hoạt động đang ngày càng tăng. Năm 2013, tổng số doanh nghiệp trong diện này là 61 nghìn  so với con số 47 nghìn năm 2010.

Trong 10 tháng đầu năm 2014, có thêm 54 nghìn doanh nghiệp rơi vào tình trạng này, tăng khoảng 9% so với cùng kỳ năm trước. Đồng thời, số lượng doanh nghiệp mới thành lập lại giảm 6,5% .

Doanh nghiệp tư nhân trong nước dường như chịu tác động bởi các yếu tố: tiếp cận nguồn vốn hạn chế, nhu cầu tiêu dùng trong nước thấp và sân chơi bất bình đẳng so với khu vực doanh nghiệp nhà nước, World Bank nhận định.

Ngược lại, bản báo cáo cho rằng, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài dường như không phải chịu quá nhiều áp lực của hệ thống quản lý trong nước, và hiện vẫn là nguồn tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế Việt Nam.

Khu vực này đóng góp gần 20% GDP, 22% tổng vốn đầu tư, 2/3 kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và tạo ra 1/4 việc làm cho khu vực doanh nghiệp chính thức. Ngành chế tạo, chế biến của Việt Nam vẫn là ngành chính thu hút nhà đầu tư nước ngoài: hiện ngành này chiếm khoảng 70% tổng số vốn FDI đăng ký.

Những yếu tố thu hút các nhà đầu tư quốc tế bao gồm giá nhân công cạnh tranh, lực lượng lao động tương đối có tay nghề (đối với hoạt động sản xuất cần nhiều nhân công) và kỷ luật, tình hình chính trị ổn định và vị trí liền kề chuỗi cung ứng của Trung Quốc, báo cáo viết.

Vẫn theo World Bank, tâm lý kinh doanh của khu vực FDI đã cải thiện trong vòng một năm qua. Phản ánh thái độ tương đối lạc quan của các nhà đầu tư nước ngoài, Chỉ số Quản trị Mua hàng (PMI) (được điều chỉnh theo mùa vụ) của khu vực sản xuất đã đạt mức 51 điểm vào tháng 10, một tín hiệu cho thấy khu vực này sẽ tiếp tục mở rộng.

Trước khi được World Bank nhấn mạnh tại báo cáo, sự tương phản giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước cũng đã từng được đề cập ở không ít diễn đàn kinh tế của Việt Nam.

Vào cuối tháng 9/2013, TS. Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright cho rằng cỗ máy tăng trưởng của kinh tế Việt Nam có bốn động cơ, thì chỉ có một đang hoạt động.

Theo đánh giá của ông Thành, ba động cơ là khu vực doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và nông nghiệp đều trục trặc.

Chỉ còn khu vực FDI là tiếp tục có kết quả tốt chủ yếu nhờ các doanh nghiệp FDI thuộc nhóm ngành thâm dụng lao động và không bị tác động nhiều bởi những khó khăn kinh tế nội địa và yếu kém của thể chế kinh tế Việt Nam.

Vneconomy