Showing posts with label làm giàu từ nông nghiệp. Show all posts
Showing posts with label làm giàu từ nông nghiệp. Show all posts

Wednesday, April 29, 2015

Chàng trai kiếm 5 tỷ/năm từ lá cây

Trước khi trở thành tỷ phú, anh Thanh thường xuyên bị mang tiếng là "gàn dở" vì ý tưởng làm giàu trồng cây lấy lá.

Anh Đặng Văn Thanh (34 tuổi) ở xã Long Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre là một người nổi tiếng “gàn dở” với mô hình kinh tế trồng cây lấy lá . Đây là một mô hình độc đáo và mang lại hiệu quả kinh tế rất cao (cho thu nhập 5 tỷ/ năm), việc mà chưa ai làm được trước đó.

Người tiên phong trồng lá cây nghệ thuật

Ở Việt Nam, chơi hoa, trưng hoa từ lâu đã không còn xa lạ. Với đặc thù khí hậu nhiệt đới ẩm, hoa ở Việt Nam rất phong phú, đa dạng, người trồng hoa, giàu lên vì hoa cũng rất nhiều. Theo xu hướng của thị trường, những bó hoa được trang trí với nhiều loại hoa, màu sắc kết hợp, và cả lá cắm kèm.

Anh Đặng Văn Thanh  trở thành tỷ phú từ trồng lá cây nghệ thuật

Hiện nay, người trồng cây lấy lá để cắm kèm còn rất hạn chế và không ai nghĩ đây là mô hình tiềm năng để mở rộng sản xuất. Bởi thế, anh Đặng Văn Thanh trồng các loại cây để lấy lá cắm trang trí với hoa bị cho là hành động kỳ quặc.

Tại vườn trồng lá rộng 2 héc ta của anh Thanh, có rất nhiều loại cây như cây huyết dụ lá nhỏ, phát tài Nhật… cho thu hoạch đều đặn lá mỗi tháng. 34 tuổi, chàng trai được cho là “gàn dở” với mô hình kinh tế “kỳ quặc” của mình cho thu nhập 5 tỷ đồng mỗi năm từ những loại cây tưởng chừng như không có mấy giá trị.

Trong khu vườn của mình, có những giống cây anh mang từ nước ngoài về, cọ Pháp là một loại cây độc đáo. Dáng cây thấp lùn và có gai, tán rộng xòe như chiếc quạt nan, xanh mướt. Vì muốn giống cọ Pháp này sống trong dáng thấp nhỏ nên anh Thanh đã nghĩ ra cách trồng chúng trong những bầu đất. Như vậy anh có thể điều chỉnh sự sinh trưởng của cây và kích thước lá phù hợp cho việc cắm hoa.

Lá cây cọ Pháp đẹp, tươi lâu khoảng từ 20 đến 25 ngày. Tuy thời gian từ lúc ươm hạt đến khi cây phát triển thu hoạch được lá khá dài (một năm), lâu hơn rất nhiều so với các loại cây khác nhưng giá trị kinh tế thu được từ cọ Pháp rất cao. Anh Thanh dành diện tích 1.000m2 để trồng 40.000 nghìn bầu cọ Pháp, mỗi tháng thu hoạch trung bình 80.000 lá và mỗi năm cho thu nhập trên 100 triệu đồng.

Là người tiên phong trong lĩnh vực trồng cây lấy lá, không có một kinh nghiệm truyền lại từ trước đó, tự mình khai phá một con đường khó đi, nhưng đến nay, anh Thanh đã thành công với sự quyết đoán của mình.

Triệu phú nơi quê nghèo

Bắt đầu lập nghiệp với mô hình trồng cây lấy lá đã hơn 10 năm, giờ đây những loại cây độc đáo trong vườn đã giúp anh Thanh trở thành tỷ phú và cùng anh tạo công ăn việc làm thường xuyên cho 15 đến 17 lao động trong vùng với mức lương khoảng 3 triệu đồng/tháng.


Từ cơ sở của chàng trai xứ dừa này, lá cây nghệ thuật “made in Thanh lá” được chuyển đi khắp mọi vùng miền trên cả nước

Loại cây cho lợi nhuận kinh tế, chiếm phần lớn diện tích đất trồng tại vườn cây của anh Thanh là cây trúc Nhật. Cây trúc Nhật dễ trồng, lại tận dụng được những khoảng đất trống trước sân nhà, trong vườn. Hơn nữa diện tích đất ở chợ Lách rất ít, những hộ nghèo càng không có nhiều đất.  Với khoảng 500m2 có thể trồng được 10.000 bầu cây, mỗi tháng cho thu hoạch khoảng 10 triệu.

Anh Thanh chia sẻ: “Trúc Nhật là loại cây dễ trồng, không cần phải tưới nước nhiều, đặc biệt, cây trúc Nhật cành càng to, dài thì mức giá bán được càng cao, không giống như cây ăn trái nếu không có thời gian thu hoạch trái sẽ rụng và bị hư, rau ăn không thu hoạch thì bị hỏng nhưng cây trúc Nhật để càng lâu giá trị kinh tế càng cao. Chỉ cần đầu tư một lần trồng, cây trúc Nhật sẽ cho thu hoạch lá trên 20 năm. Trồng trúc Nhật là một phương án thoát nghèo hiệu quả cho người dân vùng quê".

Hằng ngày, cứ khoảng 2 giờ chiều, hàng trăm hộ dân quanh vùng chuyển lá cây đến nhà anh Thanh để từ nơi tập kết này các loại lá sẽ được chia theo loại và vận chuyển đi vào 8 giờ tối cùng ngày. Các loại lá cau vàng, trúc Nhật, đinh lăng, nguyệt quế Thái,… ngày nào còn xa lạ giờ đây trở thành người bạn kinh tế hiệu quả cho người dân nơi đây, giá trị kinh tế cao gấp 5 đến 7 lần so với việc trồng cây ăn trái.

Từ cơ sở của chàng trai xứ dừa này, lá cây nghệ thuật “made in Thanh lá” được chuyển đi khắp mọi vùng miền trên cả nước, là đầu mối chính cho tất cả các cửa hàng phân phối hoa, lá nghệ thuật hàng đầu tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh.

Anh Thanh còn gián tiếp xuất khẩu những loại lá nghệ thuật này đi nhiều nước trên thế giới như Nhật Bản, Trung Quốc, Úc, Campuchia, Lào. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và khủng hoảng kinh tế, mô hình này là một hướng đi mới cho nhiều người dân vùng quê nghèo miền Tây.

“Từ khi anh Thanh đem lá về đây cho nhiều người dân cùng trồng, bà con có việc để làm rồi có thu nhập ổn định cho con cái học hành, có tiền chi tiêu hàng ngày mà công việc không hề vất vả. Loại cây mới nào được anh Thanh thử nghiệm thành công, anh đều cho bà con cùng trồng”- chị Nguyễn Thị Phương (ấp Hòa An - xã Long Thành - huyện chợ Lách) chia sẻ.

Con đường khai phá đầy chông gai thử thách

Cuộc sống sông nước miền Tây vốn khó khăn, anh Thanh sớm nghỉ học đi làm công để phụ giúp gia đình. Trải qua nhiều ngành nghề, cuối cùng anh chọn trồng cây cảnh, cũng chính từ đây người dân Chợ Lách bắt đầu gọi anh là Thanh “kỳ quặc” hay Thanh “gàn dở”.

Công nhân trong xưởng đang phân loại lá trước khi xuất bán

Một lần tình cờ anh đi đến một cửa hàng hoa lá tươi nghệ thuật tại thành phố Hồ Chí Minh, anh thấy hoa thì rất nhiều nhưng lá cắm kèm thì được vài ba loại. Anh Thanh vào đặt vấn đề với chị chủ quán mong muốn được cung cấp lá nghệ thuật cho cửa hàng, chưa hình dung hết về lá nghệ thuật là như thế nào nên những câu hỏi người chủ quán đặt ra cho anh, anh không thể trả lời hết.

Anh về nhà hăm hở với những thử nghiệm thú vị, anh cắt lá và ngâm chúng dưới nước để thử độ bền của lá tươi trong thời gian bao lâu. Khởi đầu chậm nhưng chắc, những loại lá anh thử nghiệm cho kết quả khả quan và dần được các cửa hàng chấp nhận. Với 10 loại lá thử nghiệm ban đầu, anh Thanh bán được có giá giao động từ 1-1,5 nghìn đồng/lá.

Sau khi nhận thấy tiềm năng của mô hình này, anh Thanh quyết định chuyển sang trồng lá nghệ thuật và kêu gọi bà con, anh em trong ấp hùn vốn cùng làm. Thế nhưng điều anh nhận lại lúc không phải là những cái gật đầu. Thời điểm này, anh Thanh nhận những cái nhìn dò xét, những nụ cười khinh khỉnh và hoài nghi của mọi người xung quanh.

Thành công đã mỉm cười khi số lượng lá ngày một tăng, lợi nhuận thu về ngày càng cao. Thế rồi từ một hai hộ dân làm theo, sau 4 năm anh Thanh đã hướng dẫn cho hàng trăm hộ trong vùng làm theo mô hình này. Anh có một thị trường riêng, có uy tín và được nhiều người biết đến. Nhưng không bằng lòng với thực tại, anh đi khắp trong Nam ngoài Bắc tìm kiếm những giống cây mới.

Với thời gian 5 năm, anh Thanh tự tin nói rằng đã tìm hết tất cả các loại lá cây nghệ thuật trong nước.
Anh tiếp tục giành hơn 2 năm để nghiên cứu những giống cây mới xuất sứ từ nước ngoài. “Bấy giờ một cây từ nước ngoài mang về trong nước đã có giá 500 nghìn đồng, hơn hẳn một chỉ vàng (430 nghìn đồng/chỉ). Tôi quết tâm đầu tư  để mua thêm được vài cây nữa, bởi nếu thử nghiệm một cây không hiệu quả thì sẽ coi như mất trắng”- anh Thanh tâm sự.

Với 10 cây giống mua được, thử nghiệm mỗi cây trong một môi trường sống khác nhau về độ ẩm, ánh sáng, phân bón, trồng cây lấy hạt, triết cành, dâm cành,… cuối cùng lần lượt cọ Pháp, trúc Nhật cho kết quả thử nghiệm thành công.

Sau mỗi lần thất bại, anh không hề nản chí, đến khi thành công, anh lại chia sẻ cho mọi người chứ không hề giấu cho riêng mình. Bây giờ, ở Chợ Lách nói riêng, và Bến Tre nói chung, “Thanh lá” được biết đến như đầu tàu vượt khó giúp bà con thoát nghèo.

Theo Dân Việt

Tuesday, April 28, 2015

Thoát nghèo nhờ nuôi cá lóc đầu nhím

Chỉ với 1.000m2 diện tích mặt nước nuôi cá lóc đầu nhím, mỗi năm anh Vũ Đình Quynh xuất bán trên 20 tấn cá thương phẩm, doanh thu cả tỷ đồng.
 
“Trước đây, cuộc sống gia đình tôi khó khăn lắm, cả gia đình 5 miệng ăn chỉ trông chờ vào vài sào lúa. Năm 2008, tôi mạnh dạn cải tạo 5 sào ruộng lúa năng suất thấp sang đào ao thả cá” - anh Quynh (Nam Định), người đầu tiên ở xã thử nghiệm nuôi cá lóc đầu nhím nhớ lại.

Lúc đầu, anh Quynh thả các giống cá truyền thống như trôi, trắm, chép, mè xuống 1.000m2 diện tích mặt nước. Không hài lòng với lợi nhuận 15 triệu đồng một năm, anh trăn trở tìm hướng làm ăn mới. Tình cờ, xem ti vi thấy nông dân các tỉnh phía Nam nuôi cá lóc cho thu nhập cao, anh liền vào Nam học hỏi và quyết định chọn giống cá lóc đầu nhím từ Đồng Tháp đem về quê nhà nuôi thí điểm.

 
Anh Quynh chăm sóc ao cá lóc đầu nhím.
 
Năm đầu tiên anh thả một vạn con giống. Nhờ chú trọng ngay từ khâu lựa chọn những con giống khỏe mạnh, kích cỡ đồng đều nên đàn cá của gia đình anh sinh trưởng, phát triển nhanh. Sau 6 tháng, anh xuất bán lứa cá đầu tiên, trừ chi phí, anh đã thu lãi 150 triệu đồng.

Năm 2015 là năm thứ 5 gia đình anh Quynh gắn bó với loại cá lóc này. Trước đó, trong năm 2014, anh Quynh đầu tư xây thêm 2 bể bê tông (mỗi bể 40m2) để gột cá giống. Sau 3 tháng, cá giống đạt khoảng 150 – 250 gram một con thì thả xuống ao to. Nuôi theo kiểu gối vụ này, mỗi năm sẽ nuôi được 2-3 lứa cá, thay vì một lứa cá so với những năm trước. Cá lóc đầu nhím thịt chắc, thơm ngon hơn và được thị trường ưa chuộng. Sau 5- 6 tháng nuôi, cá đạt trọng lượng 1-1,2kg là có thể xuất bán. Giá bán cá lóc đầu nhím dao động từ 50.000 – 55.000 đồng một kg, trong khi chi phí đầu tư cho 1kg cá từ lúc còn nhỏ đến bán chưa đầy 30.000 đồng. Như vậy, chỉ với 1.000m2 diện tích mặt nước nuôi cá lóc đầu nhím, mỗi năm anh Quynh xuất bán trên 20 tấn cá thương phẩm, doanh thu một tỷ đồng, trừ chi phí, anh lãi hơn 200 triệu đồng.

"Có thể nói nuôi cá lóc đầu nhím siêu lợi nhuận. Khó khăn lớn nhất mà người nuôi cá chúng tôi gặp phải là thiếu vốn đầu tư”, anh Quynh cho biết.

Không chỉ làm giàu cho bản thân, anh còn hướng dẫn kỹ thuật cho nhiều người trong và ngoài tỉnh muốn nuôi loại cá này. Anh chia sẻ cặn kẽ, để nuôi cá lóc đạt hiệu quả cao, trước tiên ao nuôi phải được vệ sinh sạch sẽ, tháo hết nước để phơi đáy từ 3-5 ngày, sau đó mới dẫn nước vào, duy trì mực nước sâu từ 1-1,5m. Ao nuôi phải bảo đảm thoáng gió, gần nguồn nước sạch, có cống cấp và tiêu nước thuận lợi. Quá trình nuôi dưỡng luôn giữ môi trường nước ao sạch sẽ, hằng ngày theo dõi cá ăn để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp nhằm phòng tránh gây ô nhiễm môi trường, dịch bệnh cho cá do lượng thức ăn thừa tồn dư trong ao.

Theo Dân Việt

Sunday, April 26, 2015

Trồng cam Sơn Lang thu bạc tỷ

Mang giống miền Bắc về Tây Nguyên thử nghiệm từ năm 1993, nay vợ chồng ông Trần Công Lâm (Gia Lai) trồng được 2 hecta cam, thu về gần 2 tỷ đồng mỗi năm.

Khu trang trại nhỏ của vợ chồng ông Trần Công Lâm nằm giữa đồi núi thuộc xã Sơn Lang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai với những màu xanh ngắt của cây ăn quả. Ông Lâm nổi tiếng khu này nhờ trồng cam Sơn Lang.

Gia đình ông Lâm bắt đầu trồng cam từ năm 1993, ban đầu chỉ là 20 cây cam sành, cam đường được ông đưa giống từ Bắc Giang vào trồng thử nghiệm trong vườn nhà. Phép thử mang lại bất ngờ khi cây cam xứ Bắc trồng trên đất Tây Nguyên vẫn cho năng suất, chất lượng không thua kém so với ở vùng bản xứ. Thích nghi với khí hậu, thổ nhưỡng, cây cam trên đất Sơn Lang cho quả to và đẹp.

Hiện vườn nhà ông Lâm đã có khoảng 600 cây cả cam và quýt (tương đương 2ha), trong đó có 500 cây đang cho thu hoạch. Khi quả chín rộ, thương lái đến tận nơi, có bao nhiêu mua hết bấy nhiêu. “Mỗi năm gia đình thu được chừng 60 tấn cam và quýt tươi, giá bán ngày thường 25.000-30.000 đồng/kg, lễ tết có khi 45.000-50.000 đồng. Trung bình cũng thu được bạc tỷ nhờ loại cây này”, ông Lâm tiết lộ.


Hơn 20 năm gắn bó với cây cam, ông Lâm chia sẻ, trồng cam không khó, chỉ cần bón nhiều phân chuồng, tưới tiêu đều đặn để giữ độ ẩm cần thiết cho cây sinh trưởng, phát triển. Điều kiện tự nhiên ở Sơn Lang còn khá hoang sơ, trong lành nên rất ít bị sâu bệnh. Đất tốt đã tạo điều kiện cho cam đạt năng suất khá cao.
Ông Lâm chỉ những quả cam Sơn Lang chín rộ. Ảnh: Nông Nghiệp Việt Nam

  Cam có thể thu hoạch quanh năm nên nhà vườn chỉ cần theo sát cây, tỉa bớt trái và giữ lại lượng vừa đủ để cây nuôi dưỡng là có thể đảm bảo đạt năng suất ổn định. So với đầu tư cà phê, trồng cam cũng sẽ tốn kém gấp 3-4 lần nhưng bù lại, cam là loại cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao hơn hẳn. Ông Lâm nhẩm tính, cà phê ở Sơn Lang thông thường chỉ đạt chỉ đạt 10-15 tấn tươi/ha. Nếu giá như hiện tại sẽ được khoảng 70 triệu đồng/tấn. Trong khi đó, cam có thể đạt 30 tấn/ha, mỗi ha thu về hơn 800-900 triệu đồng. 

“Đúng vụ tôi thu được những trái cam nặng 0,8-0,9kg/trái là bình thường. Trái mùa quả cũng đạt tối thiểu 0,3-0,5kg/trái. Cam màu vàng, thơm, vị ngọt đậm đà, ngay cả phần cùi cam cũng có vị ngọt bùi… Thương lái rất thích”, ông Trần Công Lâm kể.

Phó chủ tịch UBND xã Sơn Lang, Dương Quốc Điệp, cho biết hiện nay, trên địa bàn xã Sơn Lang đã phát triển được trên 10 ha cam, trồng từ cách đây trên 10 năm và hiệu quả đã được kiểm chứng thực tế khá rõ ràng. Các hộ trồng cam chủ yếu là người Kinh từ miền Bắc vào Tây Nguyên lập nghiệp, mang theo các giống cam đặc sản quê hương.

Từ những ưu thế vượt trội của cam Sơn Lang, chính quyền xã Sơn Lang đã tính đến chủ trương nhân rộng loại cây trồng này. Trước mắt, xã lên kế hoạch trong năm nay sẽ phát triển thêm khoảng 10 ha cam, chủ yếu trong đối tượng người Kinh, vì cây cam đòi hỏi vốn đầu tư lớn, trình độ và kỹ thuật canh tác phải đạt đến mức độ nhất định.

  Chính quyền địa phương cũng lồng ghép chủ trương này gắn với việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, hỗ trợ vốn 30 triệu đồng/ha cam cho hộ nào chọn hướng đi này và dự kiến đề nghị huyện xây dựng  thương hiệu cam Sơn Lang.

"Tất nhiên sẽ còn nhiều khó khăn, song nếu phát huy tốt, đây chắc chắn là loại cây trồng tương lai sẽ làm giàu cho không ít hộ ở Sơn Lang và là điều kiện quan trọng để thúc đẩy việc phát triển cây cam theo hướng bền vững, mở rộng thị trường”, ông Điệp nói.

Theo Nông Nghiệp Việt Nam

Saturday, April 25, 2015

Nuôi nai lấy nhung nhỏ gọn cho doanh thu khá

Nuôi theo mô hình nhỏ gọn và chỉ được coi là nghề phụ, nhưng khai thác nhung nai mang lại doanh thu gần 100 triệu đồng mỗi năm cho gia đình anh Lê Thanh Long ở Bình Định.
 
Năm 2007, khi đang là cán bộ khuyến nông kiêm thú y xã, anh Long ở thôn Kim Sơn, xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân (tỉnh Bình Định) tình cờ biết đến mô hình nuôi nai lấy nhung của người bạn ở xã Ân Tín.

“Bạn tôi chỉ làm một chuồng nhỏ với 5 con nai, trong đó có 4 con đã cho thu hoạch. Khi thu hoạch nhung, thương lái mua với giá 21 triệu đồng một kg, tôi thấy quá hấp dẫn nên quyết định chuyển đổi mô hình chăn nuôi của gia đình", anh kể.

Bán hết heo thịt và nhím đang nuôi, anh Long vay mượn thêm xây chuồng trại và mua nai giống. Con nai giống 40 kg đầu tiên anh mua có giá 17 triệu đồng. Ba năm sau, bán lứa nhung đầu tiền, anh mới thanh toán xong khoản tiền vay mượn ban đầu.

Nhận thấy mô hình khả quan, năm 2008 anh Long mua tiếp một cặp nai giống (một đực, một cái) của trại nuôi ở phường Ghềnh Ráng, TP Quy Nhơn với giá 39 triệu đồng. Một năm sau đó, hai con đực giống cho thu lứa nhung đầu tiên, riêng con cái làm nhiệm vụ sinh sản.

 
Số nai đến tuổi thu nhung của gia đình anh Long
 
Vừa nuôi, vừa tăng đàn đến năm 2012, số nai của gia đình anh Long tăng lên 6 con, 5 con đực thu nhung, một con cái sinh sản. Theo anh Long, dù chưa có nhiều sách phổ biến quy trình nuôi nai, nhưng qua gần 8 năm chăn nuôi, anh nhận thấy nuôi nai không quá phức tạp.

Theo cựu cán khuyến nông này, thức ăn của nai chủ yếu là các loại lá rừng, bổ sung thêm cỏ và cám. Mỗi ngày nai ăn hai bữa, sáng và chiều tối. Lá 'khoái khẩu' nhất của nai là sung, mít. Cứ 10 ngày cho ăn cỏ, 20 ngày cho ăn lá rừng. Chuồng trại đầu tư đơn giản, mỗi con được nuôi trong một ô, đảm bảo vệ sinh, thức ăn và nước uống. Nai khoảng 4 tuổi bắt đầu cho thu hoạch, mỗi năm cho thu nhung hai lần vào tháng 8 và tháng 11 dương lịch. Tuy nhiên, đảm bảo sức khỏe cho nai, chỉ nên thu nhung một lần vào tháng 11. Số nhung tăng lên theo thời gian và độ tuổi của nai. Muốn đảm bảo số lượng nhung, phải giữ được khẩu phần thức ăn tốt cho nai.

Theo anh Long, nai rất nhát, đến kỳ thu nhung phải hết sức cẩn thận. Muốn thu nhung nai an toàn cần có dụng cụ cùng 7 người cùng giúp việc. Sau khi thu nhung, phải cầm máu, sát trùng và đưa nai vào lại chuồng sau gần một giờ đồng hồ. Nai ít bị dịch bệnh, nên chủ yếu phòng bệnh lở mồm long móng. Một vòng đời của nai trung bình dài 30 năm.

Ngoài việc nuôi nai lấy nhung, anh Long còn nhân giống bán. “Năm 2013, tôi bán một cặp nai giống với giá 65 triệu đồng. Năm 2014, bán 3 nai đực giá 83 triệu. Hiện tại tôi còn 5 năm con, 4 con đực và một con cái. Nhung nai thời điểm này dù giá chỉ còn 15 triệu đồng một kg, nhưng bình quân mỗi năm thu nhập từ nhung và nai giống trên 50 triệu đồng, có lúc lên tới 100 triệu", anh Long chia sẻ và cho rằng nuôi một con nai bằng nuôi hai con bò.
 Theo Vnexpress

Kỹ sư cơ khí thu hơn 7 tỷ đồng từ nuôi lợn, gà sạch

Gác lại tấm bằng kỹ sư cơ khí, Hải mượn bạn bè 70 triệu đồng và quyết định rời Hà Nội lên Vĩnh Phúc nuôi lợn gà sạch. Sau hơn 7 năm, trang trại của anh đã cho doanh thu trên 7 tỷ đồng một năm

Mạc Tuấn Hải (28 tuổi) sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, rồi học Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải chuyên nghành cơ khí sửa chữa ôtô. Hải tâm sự, ngày xưa rất yêu thích các động cơ bốn bánh, thuộc làu làu công suất, các tính năng của từng loại xe.

Tuy nhiên, trong quá trình tham gia các hoạt động tình nguyện khắp các tỉnh thành phía Bắc, Hải quen và giao lưu cùng nhiều tấm gương đang làm trang trại thành công. Sau này anh trở lại tham quan, tìm hiểu và rồi niềm đam mê cũng ngấm dần từ đó. "Từ chỗ mê bốn bánh, tôi đã chuyển sang mê 4 chân và 2 chân từ lúc nào không hay", anh cười nói.
Trang trại chăn nuôi lợn, gà sạch của chàng kỹ sư trẻ đang cho doanh thu trên 7 tỷ đồng mỗi năm.
Năm 2007, sau khi tốt nghiệp, thay vì vào làm ở các công ty ôtô lớn thì Hải quyết định phóng chiếc xe máy cà tàng đi lang thang tìm hiểu kỹ hơn các trang trại nuôi lợn và gà đồi, rồi thường xuyên sang Đại học Nông nghiệp học hỏi, tham khảo ý kiến các thầy, chuyên gia về chăn nuôi.

Cuối năm 2007, tình cờ Hải đi qua vùng Lập Thạch, Vĩnh Phúc, thấy nơi đây còn hoang vu rất thích hợp làm trang trại nên anh đã quyết định dừng chân để thực hiện kế hoạch ấp ủ bấy lâu. "Cũng nhờ lập nghiệp ở mảnh đất này mà tôi có duyên làm rể tại đây", anh vui vẻ nói.

Lúc mới làm, Hải mượn bạn bè 70 triệu đồng để nuôi thử nghiệm 20 con lợn rừng. Từ năm 2013, anh mới bắt tay vào đầu tư phát triển mạnh về nuôi gà và lợn sạch với số vốn bỏ ra gần 2 tỷ đồng, trong đó vay ngân hàng là 900 triệu đồng (vay từ 2 sổ đỏ, một của bố mẹ đẻ, một của bố mẹ vợ).

Thời gian đầu, do kinh nghiệm còn ít nên Hải gặp rất nhiều khó khăn như lợn, gà còi cọc do thiếu dinh dưỡng. Đặc biệt, sản phẩm bán ra thị trường rất ít, do chưa tìm được khách hàng, trong khi chi phí chăn nuôi hàng ngày phải bỏ ra không hề nhỏ. Có những lúc anh chàng kỹ sư trẻ cảm thấy mệt mỏi, kiệt sức và muốn bỏ cuộc.

Nhưng với quyết tâm đeo bám niềm đam mê, rồi mọi sóng gió cũng trôi qua, Hải dần có kinh nghiệm hơn trong cách chăm sóc gà, lợn. Đàn vật nuôi của anh phát triển tốt hơn, đầu ra sản phẩm cũng khá ổn. Hiện tại, tổng đàn của trang trại Hải có hơn 7.000 con gà, 2.000 lợn, chủ yếu cung cấp cho các nhà hàng và tổ chức có nhu cầu mua nguyên con để liên hoan. Nhờ quy trình nuôi chặt chẽ và chăn thả hoàn toàn tự nhiên, nên chất lượng thịt lợn rừng của Hải được các nhà hàng tin tưởng và ưa chuộng.

Hải cho biết, giá gà thương phẩm bán lẻ ra thị trường của anh hiện dao động 220.000 đồng mỗi kg, còn giá thịt lợn trung bình 120.000 đồng một kg. Theo Hải, giá tuy cao hơn ở chợ khoảng 20% nhưng sản phẩm rõ ràng, nguồn gốc xuất xứ, quy trình chăn nuôi sạch cộng với chất lượng nên các sản phẩm thịt gà, lợn và trứng của anh đang bán rất chạy tại các đại lý cửa hàng thực phẩm sạch, đặc biệt là phản hồi tốt từ khách hàng đặt mua online.

Hệ thống đại lý phân phối các sản phẩm của trang trại Hải hiện đã lên tới hơn 20 cửa hàng và còn tiếp tục mở rộng. Bên cạnh đó, kênh bán hàng online qua website, mạng xã hội, các diễn đàn lớn cũng được anh chú trọng và tập trung phát triển. Năm vừa qua, trang trại này đã được cấp chứng nhận VietGap và được tham gia vào chuỗi cung cấp thực phẩm an toàn, rõ nguồn gốc xuất xứ của tỉnh Vĩnh Phúc.

Ông chủ trang trại trẻ này thông tin thêm, hiện nay, sản lượng bán ra trung bình mỗi ngày của trang trại là 40 con gà và hơn 100 kg thịt lợn. Doanh thu trung bình mỗi tháng hơn 600 triệu đồng, tức mỗi năm khoảng 7,2 tỷ đồng. Tuy nhiên, do chi phí đầu tư cho chăn nuôi sạch, khu giết mổ và đóng gói đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm cùng hệ thống vận chuyển hàng từ Vĩnh Phúc xuống Hà Nội khá cao nên lợi nhuận hiện tại chỉ đạt khoảng 10%. "Trong thời gian tới, khi mở rộng thị trường và chạy hết công suất, chắc chắn tỷ suất lợi nhuận sẽ tăng thêm", Hải kỳ vọng.

Nhờ việc kinh doanh thuận lợi, năm vừa rồi Hải đã có thể trả một phần nợ ngân hàng và lấy ra được một sổ đỏ cho gia đình. Hiện tại, anh còn nợ khoảng 500 triệu đồng và hy vọng năm sau sẽ giải quyết xong.

Để đạt được thành công ban đầu như ngày hôm nay, theo Hải thì chất lượng sản phẩm luôn phải được đặt lên hàng đầu. Và đó là thành quả của việc mạnh dạn đầu tư, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất mà cụ thể ở trang trại của anh là việc ứng dụng công nghệ EM (hệ vi sinh vật hữu ích) của Nhật Bản vào việc lên men để phối trộn thức ăn chăn nuôi hàng ngày từ nguồn tự nhiên như: ngô, thóc, cám gạo, đỗ tương… Tuy chi phí có cao hơn chăn nuôi thông thường, nhưng lợn, gà ăn vào sẽ khoẻ mạnh hơn, chất lượng thịt cao hơn, đồng thời cũng đáp ứng yếu tố sạch mà Hải đang theo đuổi.

Theo Vnexpress

Friday, April 24, 2015

Trồng 100m2 rau rừng, thu hơn 40 triệu đồng một năm

Ba loại rau rừng là bầu đất, lỗ bình và cần dại đang được thu mua với giá trung bình 30.000 đồng một kg.
 
Trung tâm nghiên cứu quốc tế Rừng nhiệt đới - Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà (Lâm Đồng) vừa thử nghiệm mô hình sản xuất các loại rau rừng theo hướng thương mại. Đây là cơ hội mới cho nông dân khi các loại nông sản khác luôn trong cảnh giá cả bấp bênh, thị trường thiếu ổn định.

Thạc sĩ Tôn Thất Minh, Giám đốc Trung tâm cho biết bắt đầu triển khai trồng các giống rau rừng từ tháng 8/2014. Trên diện tích 100m2, chỉ sau gần 2 tháng, rau rừng đã cho thu hoạch với sản lượng gần 200kg mỗi tháng. Rau rừng đang được các nhà hàng ưa chuộng và mua với giá 30.000 đồng một kg.

Theo ông Minh, việc trồng thử nghiệm rau rừng của Trung tâm quốc tế Rừng nhiệt đới – Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà là trên cơ sở tiếp nối đề tài “Nghiên cứu tuyển chọn và xây dựng mô hình trồng một số loại rau rừng tại Lâm Đồng" do thạc sĩ Lương Văn Dũng (Đại học Đà Lạt) làm chủ nhiệm. Đề tài nghiên cứu này đã được Sở Khoa học công nghệ Lâm Đồng kiểm định và đánh giá. Ban đầu nhóm nghiên cứu thử nghiệm khá nhiều loại rau rừng, nhưng kết quả chỉ chọn ra 3 loại là bầu đất, lỗ bình và cần dại. Đây là những loại rau phù hợp và thích nghi với môi trường, điều kiện khí hậu của Lâm Đồng, có thể sản xuất đại trà như các loại rau thương phẩm khác.

Mô hình trồng rau rừng tại Trung tâm quốc tế Rừng nhiệt đới khá đơn giản, vì diện tích ban đầu chỉ 100m2 đất nên chỉ cần một công nhân phụ trách. Rau rừng ở đây được trồng cả trong nhà kính và môi trường tự nhiên bên ngoài để đối chứng sự sinh trưởng, khả năng thích nghi, sản lượng thu hoạch. Riêng việc nhân giống khá dễ dàng, có thể dùng phương pháp nuôi cấy mô hoặc đơn giản hơn là giâm nhánh với chi phí đầu tư ban đầu không cao.

Thạc sĩ Tôn Thất Minh cho biết, với 100m2 đất nếu làm trong nhà kính thì đầu tư ban đầu khoảng 20 triệu đồng, trong đó tiền nhà, hệ thống tưới tự động hết 15 triệu đồng, 5 triệu đồng còn lại là tiền cây giống và phân vi sinh. Còn nếu làm ngoài môi trường tự nhiên thì chỉ cần đầu tư 5 triệu đồng.

Kết quả trồng thử nghiệm dạng thương phẩm tại Trung tâm cho thấy, nếu trồng ngoài môi trường tự nhiên, sản lượng rau rừng chỉ bằng 80% so với trồng trong nhà kính và thời gian sinh trưởng chậm hơn khoảng 3 ngày. Hiện tại, 100m2 đất trồng rau rừng ở Trung tâm quốc tế Rừng nhiệt đới cho thu hoạch đều đặn mỗi tháng gần 200kg, rau làm ra được các nhà hàng ở Đà Lạt và TP HCM tiêu thụ với giá 30.000 đồng một kg, đem lại doanh thu khoảng 6 triệu đồng một tháng và tính ra mỗi năm thu hơn 40 triệu đồng.

Cây rau rừng vốn dĩ rất khỏe, sức đề kháng mạnh, do đó việc chăm sóc không quá cầu kỳ và gần như không phải dùng các biện pháp phun xịt thuốc bảo vệ thực vật. Trong tương lai, Trung tâm quốc tế Rừng nhiệt đới - Vườn  quốc gia Bidoup sẽ có hướng chuyển giao kỹ thuật cho nông dân.

 Theo Vnexpress

Thursday, April 16, 2015

Tỷ phú ổi bốn mùa đất Bắc

Nguyễn Đăng Phái (28 tuổi), làng Văn Trung, xã Tân Chi, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, được người dân quanh vùng đặt cho biệt danh “vua ổi”.

Anh Nguyễn Đăng Phái đang chăm sóc vườn ổi bốn mùa tiền tỷ.
 
Bắt ổi ra quả trái mùa

Gần 6 năm khởi nghiệp, sở hữu hơn 3 ha vườn cây với tổng thu nhập ổn định trên 1 tỷ đồng mỗi năm và trở thành tỷ phú khi chưa đầy 28 tuổi. Nguyễn Đăng Phái là con trai duy nhất trong gia đình có 4 chị em. Anh bỏ qua cơ hội trở thành một sĩ quan chuyên nghiệp, quyết tâm trở về lập nghiệp và làm giàu trên mảnh đất quê hương với 3 loại cây chính là ổi, táo và nhãn. Nhưng nguồn thu nhập lớn nhất của anh đến chính từ cây ổi trái vụ.

“Cây ổi trái vụ thực chất không khác cây ổi chính vụ. Chỉ khác ở chỗ, cây ổi chính vụ cho thu quả ồ ạt vào một khoảng thời gian nhất định, còn ổi trái vụ cho thu quả thành nhiều đợt (khoảng 4-5 đợt/năm) gối nhau trong một năm. Điều này phụ thuộc vào kỹ thuật của người trồng”, anh Nguyễn Đăng Phái nói. Chính bài toán “được mùa, mất giá” khiến anh tìm tòi để có lời giải hiệu quả.

Năm 2008, sau khi tìm kiếm kiến thức, học hỏi từ sách vở, mạng internet, từ các mô hình trồng ổi trái vụ, anh bắt tay vào “công cuộc” biến những cây ổi “một mùa” trong vườn thành ổi “bốn mùa” với vài chục cây ổi trồng trên mảnh đất nhỏ sẵn có của gia đình.

Với những kiến thức đã có, anh Nguyễn Đăng Phái tính toán để chia vụ ổi chính ra thành nhiều đợt khác nhau bằng cách cắt toàn bộ quả trong đợt chính vụ và tiến hành cắt cành theo tỷ lệ 1/3 (3 phần cắt 2, lấy 1) để cây ổi ra quả muộn hơn, vì đặc điểm của ổi là sẽ ra hoa sau khi cắt cành. Cứ sau mỗi đợt ra quả non, những cành không ra quả lại được cắt với tỷ lệ quy định để có thể đậu quả cho đợt sau. Nhờ cách này, các đợt quả của vườn ổi nhà anh cứ gối nhau thành nhiều đợt khác nhau. Đã 4 năm nay, trung bình 1 năm vườn ổi của anh cho 4 đợt thu quả (vào những thời điểm khác với vụ chính của ổi).

Trở thành tỷ phú trẻ

Sau hơn một năm thử nghiệm hiệu quả, cuối năm 2009, anh Nguyễn Đăng Phái thuê thêm đất và mở rộng diện tích trồng ổi “bốn mùa”. Đến cuối năm 2010, anh có trong tay 3 ha vườn với gần 500 gốc ổi trái vụ. Với sản lượng từ 60 - 90 kg/gốc/năm, và giá ổi trái vụ luôn ổn định ở mức 19 - 20 nghìn đồng/kg, chỉ tính riêng việc bán quả giúp chàng trai trẻ Nguyễn Đăng Phái thu về trên 500 triệu mỗi năm.

Ngoài ra, việc bán cây giống cũng đem lại cho anh nguồn thu đáng kể. Với mức giá 20 - 25 nghìn đồng cho một cây giống lai ghép, 40 - 45 nghìn đồng cho một cành chiết (cho quả trong vòng 6 tháng), mỗi năm anh thu về trên 200 triệu đồng. Không chỉ ổi, hơn 3 mẫu táo trong vườn mỗi năm cũng cho thu nhập gần 300 triệu đồng.

Kể từ năm 2010 đến nay, mô hình ổi trái mùa và táo luôn cho thu nhập ổn định hơn 1 tỷ đồng/năm. “Ổi là cây dễ trồng, dễ chăm sóc, ít bệnh và vốn ít. Vì vậy, tiền bán quả được bao nhiêu thì gần như “ăn cả”. Đợt quả đầu tiên của năm 2015 nhà tôi thu về hơn 100 triệu đồng, trong đó tiền đầu tư cho phân bón khoảng gần chục triệu đồng”, anh Phái nói.

“Khoa học kỹ thuật là điều cực kỳ quan trọng trong trồng trọt. Để thành công, nông dân phải chịu khó học hỏi và tìm cách thoát khỏi cách làm tiểu nông ngày xưa”, anh Phái nói và khẳng định, chỉ sự khác biệt mới giúp người nông dân tạo nên bứt phá để làm giàu.

Ông Nguyễn Ngọc Cương, Trưởng thôn Văn Trung, xã Tân Chi cho biết, anh Nguyễn Đăng Phái là một trong những người đầu tiên triển khai mô hình ổi trái mùa và đạt được thành công lớn. Năm 2014, hộ nhà anh Phái là một trong số 3 hộ của xã thu nhập trên 1 tỷ đồng từ trồng ổi trái vụ. Trong hai năm trở lại đây, có nhiều đoàn của huyện và tỉnh đưa nông dân đến học hỏi mô hình ổi trái mùa này.
Theo Báo Tiền phong

Tuesday, March 17, 2015

Kỹ sư cơ khí kiếm tiền tỷ từ trang trại thỏ

Ngoài 30 tuổi, chàng kỹ sư Dương Văn Chính đã nức tiếng ở thôn 5, xã Hòa Ninh, huyện Hòa Vang (Đà Nẵng) với trại thỏ Quốc Cường doanh thu một tỷ đồng mỗi năm.

Chính tiết lộ, tổng vốn đầu tư ban đầu cho khu trại khoảng 500 triệu đồng bao gồm chi phí xây dựng nhà cửa, chuồng nhốt thỏ, mua con giống, chưa kể hàng trăm triệu đồng mua 2.000 m2 đất. Hơn ba năm qua, trang trại của anh Chính đã phát triền từ 100 thỏ bố mẹ thành hơn 1.000 con, hầu như ngày nào cũng xuất bán thỏ thịt, thỏ giống.

Chàng kỹ sư trẻ chia sẻ, một trong những yếu tố thuận lợi là thỏ rất mắn đẻ và phát triển rất nhanh. Thỏ mẹ mỗi năm sinh sản 7-8 lứa, mỗi lứa 6-8 con. Thỏ thịt nuôi 2,5 tháng là xuất chuồng, trọng lượng 2,2 - 3 kg mỗi con, giá bán ra 90.000 - 100.000 đồng một kg. Thỏ giống chỉ hơn một tháng là chuyển giao cho khách hàng với giá 150.000 đồng/kg. Từ ngày duy trì tổng đàn trên dưới 1.000 con đến nay, tháng nào anh Chính cũng xuất chuồng 600 - 700 kg, thu khoảng 80 triệu đồng, cho nguồn thu khoảng một tỷ đồng mỗi năm. Nhờ chu kỳ quay vòng vốn nhanh, trừ chi phí lãi ròng 30 - 40 triệu đồng một tháng là bình thường.

Nhớ lại ngày bén duyên với kinh tế trang trại, Chính cho biết, nghề nuôi thỏ là một bước ngoặt quan trọng. Tốt nghiệp Đại học Bách khoa Đà Nẵng năm 2003, với tấm bằng kỹ sư cơ khí, anh được một doanh nghiệp cùng ngành nhận vào làm việc. Công tác tại đó được 6 năm, sau khi được bổ nhiệm trưởng phòng một thời gian, Chính quyết định bỏ phố lên Hòa Vang mở trang trại.
Trang trại thỏ hơn 1.000 con, doanh thu bạc tỷ mỗi năm của kỹ sư cơ khí Dương Văn Chính. Ảnh: Nông Nghiệp Việt Nam
Anh hồi tưởng lại, lúc đó chứng kiến một số người bạn cùng trang lứa ăn nên làm ra từ kinh tế trang trại, tôi nghĩ với mức lương 6 - 7 triệu đồng một tháng doanh nghiệp trả cho, không biết bao giờ mới khá lên nổi. "Sau nhiều ngày suy nghĩ đắn đo, tôi quyết định dồn hết vốn liếng đang có, vay mượn thêm gia đình, bạn bè mua đất ở Hòa Ninh lập trại", Chính trải lòng.

Khi lập trại ở xã Hòa Ninh, huyện Hòa Vang đã có tổ hợp nuôi thỏ, anh kỹ sư trẻ được các chủ trang trại khác tận tình giúp đỡ nên càng hăng say đầu tư. Chính bật mí, thỏ rất dễ nuôi, thức ăn cho chúng cũng khá phổ biến, chủ yếu là các loại rau và cây cỏ. Yếu tố quan trọng nhất là phòng ngừa được bệnh tật. Muốn vậy chuồng phải cao ráo, sạch sẽ, ấm về mùa đông, thoáng về mùa hè. Thỏ bố mẹ và hậu bị định kỳ 6 tháng tiêm phòng một lần và cứ 10 ngày phun tiêu độc khử trùng chuồng trại.

Rút ra nhiều kinh nghiệm sau khi nuôi khá thành công, Chính viết sách về kỹ thuật nuôi thỏ giống nhập ngoại để giao cho khách hàng của mình. Ngoài thức ăn thô cho thỏ, anh đã sản xuất thành công thức ăn tinh. Đó là loại cám viên tổng hợp giúp thỏ tăng trưởng và có sức đề kháng bệnh tật tốt hơn. Nhờ những đóng góp này, Chính được Hội Khoa học phát triển Việt Nam tặng Bằng khen và mời dự hội thảo ở Hà Nội.

Khi được hỏi về dự định trong tương lai, Chính cho biết, thị trường thực phẩm chế biến từ thỏ ở Đà Nẵng rất phong phú. Không dừng lại ở quy mô chuồng trại và tổng đàn như hiện nay, sắp anh sẽ đầu tư mở rộng, nâng tổng đàn lên 2.000 con. "Trong tương lai gần sẽ xây dựng thương hiệu sản phẩm và kết nối với các siêu thị nhà hàng ở thành phố tiêu thụ thịt thỏ sạch”, anh nói.

Theo Nông Nghiệp Việt Nam

3 đại gia giàu nhất sàn chứng khoán đi làm nông nghiệp

Bầu Đức, ông chủ thép Hòa Phát và giờ là tỷ phú Phạm Nhật Vượng đều đã đặt chân vào lĩnh vực nông nghiệp, từ trồng rau, nuôi bò đến sản xuất thức ăn gia súc.

Chia sẻ với VnExpress, một lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh cho biết Tập đoàn Vingroup của ông Phạm Nhật Vượng vừa đề xuất được sản xuất rau, quả sạch cũng như các sản phẩm nông nghiệp khác tại tỉnh. Thực tế, việc ông lớn ngành bất động sản, bán lẻ này lấn sân sang nông nghiệp đã được thai nghén từ lâu.

Đề xuất của Vingroup được lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng phía tỉnh hoan nghênh và tạo điều kiện đầu tư. Chủ tịch tỉnh Nguyễn Văn Đọc cũng nhận định sản phẩm nông nghiệp sẽ luôn có đầu ra, bởi khách hàng tiềm năng là 1,2 triệu dân trên địa bàn và hơn 7 triệu du khách mỗi năm, hàng chục nghìn công nhân tại các khu công nghiệp. Vingroup thành danh với tư cách nhà đầu tư, phát triển bất động sản, du lịch nghỉ dưỡng và sau này lấn sân sang giáo dục, y tế, bán lẻ…

Lĩnh vực nông nghiệp được 3 doanh nhân giàu nhất sàn chứng khoán đánh giá là nhiều tiềm năng.
Trong một cuộc gặp báo chí đầu năm Ất Mùi, ông Phạm Nhật Vượng - Chủ tịch Vingroup cho biết sau khi làm việc với chuyên gia nông nghiệp của Isarel, ông nhận thấy đây là lĩnh vực đáng đầu tư và đã “gom” được vài chục hécta đất nông nghiệp để thực hiện ước mơ này. Vị tỷ phú đôla đầu tiên của Việt Nam cũng không giấu tham vọng dự án sẽ giúp ngành nông nghiệp Việt Nam phát triển, người tiêu dùng sẽ được sử dụng những sản phẩm nông nghiệp sạch với giá không đắt đỏ như bây giờ.

Hòa Phát, một ông lớn khác trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh thép, bất động sản cũng vừa thông tin nông nghiệp là chiến lược đầu tư dài hạn và sẽ ưu tiên nhân sự, tài chính cho ngành nghề kinh doanh mới này trong tương lai. Trước mắt, tập đoàn chi 300 tỷ đồng để thành lập công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Hưng Yên, công suất 300.000 tấn một năm, dự kiến sẽ cho ra thị trường lô hàng thương mại đầu tiên vào tháng 6/2015, hướng tới doanh thu 3.000 tỷ đồng trong 3 năm.

Thị trường thức ăn chăn nuôi Việt Nam được đánh giá là tiềm năng với doanh số 6 tỷ USD. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2014, cả nước sản xuất được 14,7 triệu tấn thức ăn chăn nuôi công nghiệp và dự kiến tăng lên 15,6 triệu tấn trong năm nay. Tuy nhiên, con số này chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu thị trường bởi chiến lược phát triển ngành chăn nuôi cho hay đến năm 2015, Việt Nam cần 18- 20 triệu tấn thức ăn công nghiệp và tăng lên 25-26 triệu tấn vào năm 2020. Để đáp ứng đủ nhu cầu thị trường, những năm qua Việt Nam đã phải chi hàng tỷ đôla Mỹ để nhập khẩu thức ăn gia súc, chẳng hạn năm 2014 lên tới 3,3 tỷ đôla.

Song, "miếng bánh ngon" này đến nay gần như vẫn do doanh nghiệp ngoại nắm giữ. Báo cáo từ Hiệp hội Chăn nuôi cho thấy, các doanh nghiệp liên doanh và 100% vốn đầu tư nước ngoài chiếm hơn 60% tổng sản lượng thức ăn chăn nuôi sản xuất ra, còn các doanh nghiệp trong nước dù đông quân số nhưng chỉ chiếm khoảng 40% thị phần.

Do đó, với quan điểm thận trọng của người “lính mới”, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hòa Phát  - ông Trần Đình Long nhận định áp lực cạnh tranh trong ngành thương mại và sản xuất thức ăn chăn nuôi rất lớn, thậm chí lớn hơn ngành thép nhưng tập đoàn sẽ quyết tâm vượt qua các khó khăn, trở ngại để thành công.

Ngoài ra, nhắc đến những đại gia tay ngang sang nông nghiệp, không thể không kể đến Chủ tịch Hoàng Anh Gia Lai - ông Đoàn Nguyên Đức. Năm 2008, nhận thấy lĩnh vực bất động sản tuy có khả năng mang lại lợi nhuận đột biến nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro và mang tính chu kỳ, Bầu Đức đã quyết định sang Lào, Campuchia tìm đất trồng cao su, sau đó là mía, cọ dầu và ngô.

Với phương châm đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh để phân tán rủi ro, “lấy ngắn nuôi dài” từ những cây trồng ngắn ngày, đến giữa năm 2014, Hoàng Anh Gia Lai có khoảng 44.500 hécta cao su, 8000 hécta mía đường, cọ dầu đã trồng được 17.300 hécta và bắp có khoảng 5.000 hécta. Biết tận dụng các cây trồng làm thức ăn gia sức, năm vừa qua vị doanh nhân này lại bắt tay vào kế hoạch phát triển đàn bò 100.000 con.

"Nhiều cổ đông tâm sự với tôi rằng các dự án phát triển rất thuận lợi nhưng chờ lợi nhuận quá lâu, sốt ruột vô cùng. Vì vậy, tôi phải nghĩ đến cây bắp, con bò để bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư", Bầu Đức bộc bạch.

Tại kỳ đại hội cổ đông thường niên năm 2014, ông chia sẻ Hoàng Anh Gia Lai đã đầu tư 18.000 tỷ đồng vào nông nghiệp công nghệ cao và bước đầu thu được thành công. Riêng năm 2014, doanh thu từ bán mủ cao su, bán đường của tập đoàn đạt gần 1.270 tỷ đồng, tăng 18% so với năm trước và chiếm hơn 40% tổng doanh thu.


Nói về xu hướng các doanh nghiệp tư nhân ngày càng đổ nhiều tiền vào nông nghiệp, Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Lân Hùng nhận định đây là thành công lớn của Chính phủ khi đã kêu gọi được các nhà đầu tư lớn. “Không có doanh nghiệp thì nông dân không phát triển được, muốn tiến dài thì vốn là điều rất quan trọng”, ông phát biểu.

Đồng quan điểm, nguyên Cục trưởng Cục Trồng trọt Nguyễn Trí Ngọc “rất mừng” khi các doanh nghiệp đang dành sự quan tâm lớn cho nông nghiệp, bởi trước đây lĩnh vực này thường bị cho là rủi ro và hiệu quả trước mắt không cao, trong khi có nhiều ngành khác sinh lợi lớn ngay từ ban đầu đầu. “Nếu không có những ông lớn vào cuộc, ngành nông nghiệp còn phải bươn chải nhiều”, ông nói.

Đang hợp tác với Tập đoàn Him Lam đầu tư trồng mắc ca ở Tây Nguyên, ông Nguyễn Đức Hưởng - Phó Chủ tịch Ngân hàng Bưu điện Liên Việt cũng thừa nhận vườn của nông dân, doanh nghiệp trồng sẽ khác rất nhiều so với vườn Nhà nước. “Vườn của Nhà nước chủ yếu làm thí nghiệm, chắc chắn không bằng những người bỏ công sức, sống chết vì nó”, ông nhấn mạnh. Thậm chí, Giáo sư Hoàng Hòe, người có hàng chục năm theo đuổi nghề nông cũng phải thốt lên: “Toàn những ông nhiều tiền đổ vào, những ông này thì khôn lắm”.

Tuy nhiên, những người trong cuộc đều chung cảm nhận để ngành nông nghiệp Việt Nam phát triển bền vững thì cần có những định hướng đúng đắn từ cơ quan quản lý và hỗ trợ cần thiết về vốn, kỹ thuật.

Hiện nay, cơ chế hỗ trợ cho doanh nghiệp đã có khi Nghị định 210 về chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn đã được ban hành năm 2013 và Thông tư hướng dẫn thanh toán, quyết toán các khoản hỗ trợ sẽ chính thức có hiệu lực từ 27/4/2015. Tuy vậy, các chuyên gia cho rằng việc triển khai các văn bản này phải thực hiện nhanh chóng và mỗi tỉnh cần có chính sách đặc thù để áp dụng vào thực tế, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động và liên kết với nông dân.
Vnexpress

Tuesday, March 3, 2015

“Tây Nguyên thuộc số ít nơi trên thế giới trồng tốt mắc-ca”

Mắc-ca muốn phát triển được phải đòi hỏi tất cả những điều kiện thích nghi về đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, độ cao...

“Tây Nguyên thuộc số ít nơi trên thế giới trồng tốt mắc-ca”
Điều kiện tự nhiên và khí hậu thuận lợi của Tây Nguyên sẽ là lợi thế cạnh tranh để trồng mắc-ca theo các mô hình lớn tập trung.
Lâm Đồng đang có khoảng 150.000 ha trồng cây cà phê, và để nâng cao giá trị trên một đơn vị diện tích, tỉnh này đã có định hướng dành khoảng 10-15% diện tích trồng xen canh với cây mắc-ca và một phần nhỏ trồng mới.
“Với những ưu thế vượt trội cả về giá trị kinh tế lẫn giá trị sử dụng, cây mắc-ca đang được coi là niềm hy vọng “tỷ đô” cho bà con khu vực Tây Nguyên, trong đó có tỉnh Lâm Đồng. Ở những nơi có điều kiện sinh thái phù hợp, mắc-ca sinh trưởng, phát triển rất tốt, và mảnh đất Tây Nguyên là một trong số ít những nơi trên thế giới được hưởng ưu đãi do thiên nhiên ban tặng”, ông Nguyễn Trúc Bồng Sơn, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lâm Đồng nói.

“Thủ phủ mắc-ca”


Việc trồng thí điểm mắc-ca do Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lâm Đồng thực hiện đến nay đã có những kết quả gì, thưa ông?


Hiện tại, theo quy hoạch phát triển nông nghiệp của tỉnh Lâm Đồng, cây mắc-ca đã được đưa vào là một cây trồng mới và được quy hoạch phát triển đến năm 2020 với khoảng 22.000 ha trồng tập trung ở 7 huyện, trong đó có 20.000 ha là trồng xen canh với cây cà phê và chỉ có 2.000 ha là trồng mới.

Tại Lâm Đồng có khoảng 15 giống mắc-ca được trồng. Sau 9 năm trồng, một số giống có năng suất đạt từ 7 - 9 kg hạt/cây, cá biệt có những cây cho năng suất trên 10 kg hạt/cây; dự báo khả năng từ năm thứ 12 trở lên - giai đoạn kinh doanh chính thức, năng suất có thể đạt đến 12 - 15 kg hạt/cây, tương đương với năng suất của mắc-ca ở vùng nguyên sản Úc.

Theo thông tin tôi được biết, hiện có một số doanh nghiệp/tổ chức có tham vọng được đồng hành với Nhà nước và bà con nông dân để biến Tây Nguyên trở thành “thủ phủ mắc-ca” trong khu vực, trước tiên là thí điểm ở Lâm Đồng.

Mắc-ca muốn phát triển được phải đòi hỏi tất cả những điều kiện thích nghi về đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, độ cao…, những yếu tố này sẽ tác động đến vấn đề ra hoa của cây.

Ví dụ, trong thời điểm cây ra hoa, nếu gặp phải những cơn mưa trái mùa hoặc sương mù nhiều thì cây sẽ không thể thụ phấn được, hoặc nếu trồng mắc-ca ở những nơi gió nhiều thì cây sẽ ngã đổ hết, bên cạnh đó, thời gian phân hóa mầm hoa của cây đòi hỏi phải diễn ra đúng vào thời kỳ khô hạn và phải có nhiệt độ ban đêm từ 15-18 độ C…

Tuy vậy, ở những nơi có điều kiện sinh thái phù hợp, cây mắc-ca sinh trưởng rất tuyệt vời, và mảnh đất Tây Nguyên của chúng ta là một trong số ít những nơi trên thế giới được hưởng ưu đãi do thiên nhiên ban tặng.

Cùng với Úc và Hawaii - những vùng đất trồng mắc-ca truyền thống, Tây Nguyên hoàn toàn có thể trồng được những cây mắc-ca cho quả chất lượng tốt.

Đâu là vai trò của Trung tâm trong phát triển cây mắc-ca tại địa phương?

Trên thực tế, hiện nay chưa có bất cứ một quy trình kỹ thuật chính thức nào được áp dụng chung cho tất cả các vùng sinh thái trồng mắc-ca tại tỉnh Lâm Đồng. Dựa trên lý thuyết nghiên cứu và kinh nghiệm thực tế, chúng tôi sẽ tiến hành xây dựng một bộ quy trình chuẩn để chuyển giao kỹ thuật cho bà con nông dân khi bắt tay vào trồng loại cây mới này.

Đó là công việc ưu tiên của ngành khuyến nông mà chúng tôi thấy cần phải tham gia và đẩy mạnh.

Bên cạnh đó, tôi nhận thấy cái chúng ta đang thiếu nhất hiện nay là xây dựng chuỗi giá trị trong quy trình khép kín từ khâu trồng đến chế biến, tiêu thụ mắc-ca. Song song với định hướng quy hoạch nông nghiệp của tỉnh Lâm Đồng từ năm 2015  đến năm 2020, chúng ta cũng cần xây dựng chuỗi giá trị này để đảm bảo sự phát triển bền vững cho bà con.

Quy mô trồng mắc-ca hiện tại của bà con nông dân còn nhỏ lẻ, phân tán nên sản lượng không nhiều. Do đó, việc quy hoạch vùng nguyên liệu lớn và tập trung là cần thiết, khi đó, bài toán về việc chế biến sâu mới hiệu quả…

Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ sản xuất cũng là vấn đề cần cân nhắc ngay lập tức. Bởi hiện nay chúng ta có hai mươi mấy ngàn hộ nông dân trồng cà phê ở tỉnh Lâm Đồng cần sự hỗ trợ về vốn và giống cây để khởi tạo vùng nguyên liệu mắc-ca ban đầu.

Nông dân muốn trồng, nhưng chi phí còn cao


Chuyển đổi cơ cấu trồng ở Tây Nguyên, suy cho cùng, cũng để cho đời sống người dân Tây Nguyên được khấm khá hơn. Vậy theo ông, cần làm những gì để bảo vệ tốt hơn một đối tượng dễ bị tổn thương là nông dân trong phát triển mắc-ca?


Trước đây bà con sản xuất tự phát, bây giờ với vai trò của Nhà nước, thì phải thúc đẩy xây dựng thành chuỗi giá trị sản xuất. Với chuỗi giá trị này thì vai trò, trách nhiệm của từng địa phương, từng ngành như thế nào phải làm rõ.

Chẳng hạn trong vấn đề biến đổi khí hậu tác động đến trồng mắc-ca. Nếu tính theo quy luật thì tháng 2, tháng 3 là thời kỳ mắc-ca ra hoa… Nhưng tại sao năm nay cây lại ra hoa sớm hơn, thời điểm khoảng tháng 12… Thế thì chúng ta thấy vấn đề nghiên cứu sâu về biến đổi khí hậu phải lường đến những vấn đề đó, hạn chế tổn thương cho cây mắc-ca, hạn chế thiệt hại của bà con nông dân.

Đang có luồng ý kiến cho rằng cần lập hiệp hội mắc-ca Việt Nam, ông đánh giá như thế nào về kiến nghị này?


Nếu chúng ta lập ra hiệp hội để giúp thúc đẩy nhanh chuỗi giá trị đã nói trên, thì chúng ta nên thử. Thành lập hiệp hội thì phải xác định vai trò của hiệp hội là thúc đẩy chế biến sản phẩm tinh chế, chứ không chỉ xuất thô.

Trong quá trình thí điểm, ông thấy chi phí đầu vào của cây mắc-ca so với cây cà phê có chênh lệch quá lớn không?


Tôi thấy hiện có một bức xúc của nông dân là muốn trồng nhưng chi phí giống còn cao. Đối với người nông dân như vậy là tương đối mạo hiểm, vì đây là cây trồng mới mà, họ chưa biết đánh giá như thế nào. Trong chi phí đầu tư cho giai đoạn kiến thiết cơ bản đối với cây mắc-ca thì lớn nhất là chi phí giống.

Tôi nghĩ rằng trong vấn đề phát triển giống, chúng ta cần quan tâm nguồn vật liệu cây giống đầu dòng cần được quản lý chặt chẽ và có những vườn ươm đủ lớn, để giảm chi phí giá thành cho giống đầu vào và cung cấp nguốn giống đảm bảo chất lượng cho nông dân.

Tôi cũng thắc mắc, việc chăm sóc cây mắc-ca có cần sử dụng phân bón hay cái gì phức tạp hơn không so với cây cà phê?


Mỗi cây có một quy trình bón phân khác nhau, cây cà phê, cây tiêu , cây điều, cây ca cao đều có công thức bón phân khác nhau. Đối với cây mắc-ca cũng vậy, hiện tại chúng ta chưa có nghiên cứu sâu về vấn đề này.

Chính vì vậy, chúng tôi đề nghị cần phải có một nghiên cứu quy trình kỹ thuật đối với cây mắc-ca, để giúp cho nông dân chăm sóc, bón phân cung cấp dinh dưỡng cân đối, hợp lý cho cây mác ca ở những giai đoạn sinh trưởng, phát triển khác nhau, chứ nếu không có thể gây thiệt hại cho nông dân.

Ông dự báo thế nào về sự phát triển của mắc-ca ở Tây Nguyên trong vòng 10 năm tới?


Nhiều báo cáo nghiên cứu về mắc-ca đều dự đoán: năm 2020, nhu cầu sử dụng của thế giới khoảng 210.000 tấn.

Trong khi đó, nguồn cung hiện nay chỉ có khoảng 120.000 tấn, tức là vẫn thiếu từ 50% đến 60%, trong đó các nước có nhu cầu sử dụng nhiều nhất là Trung Quốc, Mỹ, Đức.

Như vậy, điều kiện tự nhiên và khí hậu thuận lợi của Tây Nguyên sẽ là lợi thế cạnh tranh để trồng mắc-ca theo các mô hình lớn tập trung. Đặc biệt, Việt Nam rất gần với thị trường tiêu thụ lớn của thế giới là Trung Quốc.

Theo Vneconomy

Monday, February 9, 2015

Nơi củ sâm to bằng… củ sắn

Nhìn từ xa, Chung Sơn như một cái chuông khổng lồ của người khổng lồ úp xuống thế gian, phủ bóng biết bao trầm tích của một vùng đất thiêng với nhiều loại sản vật, tục lệ độc nhất vô nhị…
Bụi sâm ở nhà anh Đăng

Sách "Đại Nam nhất thống chí" chép: “Tên nỏ sản xuất ở huyện Yên Thế, cát sâm sẵn ở đỉnh núi Chung Sơn…”.

Ngậm ngải tìm... sâm

Anh Trần Đình Dũng, Trung tâm Khoa học Công nghệ và Môi trường huyện Tân Yên, sau khi biết tin về sâm núi Dành đã nhiều lần khảo sát thực địa nhưng đều không tìm thấy.

Một lần tình cờ anh được ông Nguyễn Văn Được ở Liên Chung mời uống một bình rượu quý. Dù loại thảo dược trong bình đã bị cắt lát nhưng vị sâm vẫn thơm rất đặc trưng. Linh tính báo cho anh Dũng biết đó chính là sâm núi Dành.

Cả mừng anh hỏi thì ông Được cho hay ở trên núi vẫn còn một gốc sâm cổ mà để tránh đào trộm ngay cả con cháu ông cũng không hề hé miệng. Nếu anh thực sự có lòng hôm nào quay lại ông sẽ chỉ.
Không may vài ngày sau ông Được ốm cấm khẩu, chết bất đắc kỳ tử khiến cho lời hẹn kia trở thành dang dở, manh mối cây sâm núi bỗng tựa phù vân.

Chuyện tìm sâm tưởng lâm vào thế cùng đường thì tình cờ một ngày ông Nguyễn Khắc Lư ở xã Liên Chung báo tin trong một lần làm nương trên núi Dành có cuốc phải một bụi cây mùi thơm như sâm nên đem về nhà trồng.

Hiện hai gốc sâm ấy vẫn còn. Vậy là anh Dũng liền tìm đến. Đó chính là cây sâm núi Dành bằng xương, bằng thịt. Bất ngờ hơn, một người dân ở trong xóm còn nhận lời dẫn đoàn đi quay phim mấy gốc sâm cổ ở trên núi nằm khuất lấp giữa rừng guột.

Tin truyền tin, cuối cùng anh cũng tiếp cận được bốn hộ đang sở hữu sâm núi Dành. Cụ thể ở thôn Đầm Sen xã Việt Lập có bố con ông Thân Văn Thành với gốc sâm cổ nửa thế kỷ loại năm lá chét, ở thôn Hậu xã Liên Chung có ông Nguyễn Khắc Lư, Nguyễn Khắc Lừng, Nguyễn Khắc Lẫy có bốn gốc sâm trên mười năm tuổi trong đó ba gốc sâm ba lá chét, một gốc sâm năm lá chét.
sâm-quý, củ-sâm, nhân-sâm, dược-liệu, cây-thuốc, Yên-Thế, Chung-Sơn
Quả sâm

Sâm núi Dành càng cổ càng quý. Thân Hải Đăng, con trai ông Thân Văn Thành, một buổi đào hố trồng gốc nhãn đã bới được một củ sâm khổng lồ to như cổ tay người lớn và phân nhánh như một cái sừng hươu, trọng lượng khoảng 1kg. 
 
Người ta kỳ vọng sâm Chung Sơn sẽ thành một sản vật đặc trưng cho khu du lịch tâm linh trên núi với tâm thế: "Núi không cần cao trên có tiên ở khắc linh. Đầm không cần sâu dưới có rồng ở khắc thiêng”. Nhưng với tình hình này không biết bao giờ giấc mơ ấy mới thành sự thực.

Củ sâm to ngoại hạng đó cực hiếm còn củ to như chuôi dao, chuôi liềm rất sẵn. Khi biết được tin về gốc sâm cổ ở của ông Thành anh Dũng liền tìm đến.

Hỡi ôi, vườn sâm đã tan hoang không còn một lá. Thấy vẻ mặt tiếc ngẩn, tiếc ngơ của anh, anh Đăng phân trần: “Bà vợ tôi sơ ý quá nên để đàn gà sổng chuồng vặt sạch lá. Chẳng biết có bổ béo gì không mà gà rất thích ăn lá sâm anh ạ”.

Một tấm lưới cấp tốc được phát cho anh Đăng để đem rào những gốc sâm quý. Một dự án bảo tồn sâm núi Dành tại hai xã Việt Lập và Liên Chung cũng được lập ra.

Sâm núi Dành thuộc họ leo bò như khoai lang. Sâm nhân giống bằng hạt rất khó, bằng cành cũng không kém gian lao nên dân gian thường đào các dây sâm đã có rễ để trồng. Dây sâm dài khoảng một gang tay là nẩy ra một “mắt”.

“Mắt” ấy khi bấm xuống đất, ra rễ thì hình thành nên củ. Củ sâm lớn rất chậm chứ không được như củ khoai. Năm đầu tiên chúng nhỏ như cái đũa, phải mất bảy tám năm mới lớn bằng chuôi dao, chuôi liềm. Giống sâm Liên Chung cho củ nhỏ hơn sâm ở Việt Lập.
sâm-quý, củ-sâm, nhân-sâm, dược-liệu, cây-thuốc, Yên-Thế, Chung-Sơn
Củ sâm của ông Thành

Sự nổi tiếng còn tai hại hơn cả những cái mỏ của đàn gà háu đói nhà anh Đăng. Hết đem đi triển lãm, phân tích mẫu lại làm quà biếu, mấy bình sâm ngâm sẵn không còn đã đành mà những củ to, củ nhỡ rồi củ nhỏ trong vườn cũng bị đào bới đến kiệt quệ.

Lúc tôi đến, vườn sâm trơ lại những rễ là rễ. Nể khách quý, anh Đăng mới lầy lật xuống bếp, lôi trong xó xỉnh, ngóc ngách nào đó một bình rượu sâm đã vơi mất nửa.

Anh cười hề hề: “Không cất xuống dưới đấy thì bây giờ cũng chẳng còn một chén để mà đãi anh đâu. Mong muốn duy nhất của chúng tôi là các nhà khoa học hãy nghiên cứu xem sâm núi Dành bổ béo ra sao, công hiệu chữa bệnh thế nào chứ cứ để như thế này dân chúng tôi chẳng biết xử trí thế nào cả”.
Chén rượu sâm trong cổ họng tôi vẫn thơm nguyên mùi sâm nhưng không còn thấy vị ngọt hậu.

Chữa bệnh mù lòa cho mẹ vua

Sâm Chung Sơn có nhiều huyền tích mờ tỏ. Chuyện dân gian rằng mẹ vua Tự Đức bỗng mắc phải chứng mù lòa dù thái y đã sắc cho đủ loại thuốc quý bệnh tình vẫn không chuyển.

Dân Bảo Lộc Sơn nghe tin liền dâng lên bà mấy củ sâm Chung Sơn (núi Chuông hay còn gọi là núi Dành - PV). Một thời gian mắt mẹ vua lại nhìn thấy ánh sáng. Còn sách "Đại Nam nhất thống chí" chép: “Tên nỏ sản xuất ở huyện Yên Thế, cát sâm sẵn ở đỉnh núi Chung Sơn…”.

Bà Thọ, mẹ vợ ông Thân Văn Thành ở thôn Đầm Sen xã Việt Lập (Tân Yên, Bắc Giang) nếu còn sống phải 120 - 130 tuổi bởi người con rể năm nay cũng đã 91 tuổi. Bà là người thuộc nghề thuốc nam, biết địa điểm cây sâm quý mọc trên núi Dành hơn ai hết trong vùng.

Thời Pháp thuộc, bà Thọ chuyên đào sâm bán cho nhà giàu. Một củ sâm đổi ngang vài chục cân gạo. Cánh chánh phó tổng như tổng Tường, chánh Chức, chánh Nhạnh, chánh Hội Sáng… săn sâm như săn đón vàng bởi lẽ phần để nhà dùng, phần để nộp lên quan trên xin giảm tô, giảm thuế.

Ngoài bồi bổ sức khỏe, sâm núi Dành còn được dùng trong những trường hợp người bệnh thập tử nhất sinh, thoi thóp chưa kịp trăng trối con cháu ở xa thì người nhà sẽ cắt một lát sâm cho ngậm.
Việc cầm cự có thể được vài ngày. Lát sâm được rút ra khỏi miệng cũng là thời khắc người bệnh đi theo tiên tổ.

Vợ chồng ông Thành có tới mười người con, chúng thường xuyên bị sài đẹn, nóng sốt. Thương cháu, bà Thọ vẫn thường lên núi Dành để kiếm sâm về. Mỗi chuyến đi có khi kéo dài tới vài ba ngày. Nhờ sâm mà ông bà giữ lại được tất cả mười núm ruột.

Có lần thấy mẹ vợ đưa cho mấy củ sâm còn quá nhỏ ông Thành không nỡ dùng mà đem trồng ở một góc vườn. Năm 1968, vợ chồng ông chuyển nhà từ phía tây về phía nam núi, mấy gốc sâm hoang cũng được di về.

Theo thời gian, sâm dần biến mất trên núi Dành, bà Thọ cũng thành người thiên cổ. Chỉ còn mấy gốc sâm dại là vẫn mọc bên góc vườn nhà ông Thành.

Tháng tám chúng bung nở từng chùm hoa dài cả gang tay như những cái chuông nhỏ trắng ngà. Hoa tàn, nhụy rữa cũng là lúc những quả dài thuôn như ngón tay người thành hình.

Lá xanh rồi lại lá vàng. Hoa nở rồi lại hoa rụng. Gần nửa thế kỷ trôi qua mấy gốc sâm hầu chỉ những người trong gia tộc họ Thân là biết rõ. Củ sâm mọc lưu cữu hàng chục năm nên rất to và rất nhiều. Cứ bập cuốc xuống là thấy sâm.

Khi gặp cơn mưa to trôi hết lớp đất bên trên củ sâm lại nổi lên như đàn lươn, đàn rắn. Thỉnh thoảng ông Thành lại sai mấy đứa con đào mấy củ sâm phần ngâm rượu, phần phơi khô đem sắc uống như thưởng trà.

Ngoài Việt Lập, sâm còn có ở xã Liên Chung cũng chung một dải núi Dành. Những gốc sâm cổ được người dân giữ gìn rất cẩn thận. Hễ lên núi mà thấy sâm là người ta tuốt hết lá để người khác không nhận dạng được. Sâm đã hiếm lại càng thêm hiếm.
(Theo Nông nghiệp Việt Nam)

Wednesday, February 4, 2015

Biệt thự, ôtô tiền tỷ của ông chủ vườn chuối làm chơi ăn thật

Với 3ha chuối, dự kiến cho thu về hơn 3 tỷ đồng vào dịp Tết Nguyên đán năm nay, ông Nguyễn Văn Thu ở thôn Địa Mối xã An Sinh (Đông Triều –Quảng Ninh) chia sẻ, trồng chuối đúng là “làm chơi, ăn thật”.

Trẻ trồng na già trồng chuối

Các cụ có câu “trẻ trồng na, già trồng chuối”, kinh nghiệm này hiện đã rất hữu ích cho ông Nguyễn Văn Thu. Đưa chúng tôi đi thăm vườn chuối với hơn 3 vạn cây, cây nào cây đó đều thẳng tắp, được bố trí thành hàng lối ngăn nắp để áp dụng được máy móc, phía dưới tán chuối ông đang thử nghiệp cam, quýt, thanh long… khiến cho những vị khách như tôi bị lạc vào một thiên đường cây trái không tìm được lối ra.
Ông Thu đang chăm sóc vườn chuối của mình.
Ông Thu sinh năm 1958, sau khi xuất ngũ về quê, ông cũng như bao người nông dân khác, “gác súng gươm” về với ruộng đồng. Ngoài làm ruộng, ông Thu còn chạy chợ ngược xuôi, buôn bán đủ các nghề để nuôi 5 đứa con ăn học. Khi tích luỹ được một số vốn kha khá, ông Thu đã quyết định mua thêm đất để chuyển hướng sang làm kinh tế trang trại. “Lúc đầu, tôi trồng rất nhiều vải thiều và chăn nuôi lợn. Tuy nhiên, lợn thì năm nào được giá còn có lãi, có năm thì chỉ lấy công làm lãi, thậm chí còn bị âm cả vào vốn còn vải thiều cũng trong tình trạng bấp bênh tương tự, cứ được mùa giá lại thấp, năm mất mùa thì giá lại cao nên lợi nhuận cũng chẳng được nhiều”, ông Thu nói.

Mất tới 5 năm trồng vải để cho thu hoạch nhưng sau những chuyến đi tham quan, học hỏi kinh nghiệm ở các địa phương, ông Thu trở về đã đưa ra một quyết định đầy táo bạo, chặt hết cả vườn vải 3 ha mà bao lâu nay gia đình ông dày công trồng trọt mới được tới ngày thu quả. “Nhiều người khi đó còn tới khuyên bảo tôi là không nên lãng phí như thế, để có được vườn vải phải mất 5 năm trời, dù giá có lúc thấp, lúc cao nhưng mỗi năm trừ chi phí cũng thu về hàng trăm triệu đồng thì tại sao lại phá đi. Nhưng tôi vẫn quyết định chặt hết và có người còn cho tôi là điên khùng”, ông Thu nói.

Sau khi chặt hết vải, ông chuyển sang trồng na, thời điểm đó, na trồng sau 3 năm đã cho thu quả, vừa được mùa lại được giá, giải quyết việc làm cho hàng chục lao động địa phương. Mỗi năm, trừ hết chi phí, vườn na cũng đem lại cho gia đình ông thu nhập hơn 300 triệu đồng, gấp đôi so với thu nhập từ vườn vải trước đó. Những tương có được một vườn na với 3ha, cho thu nhập ổn định, ông Thu sẽ “yên phận” với loại cây trồng này cho tới khi về già. Tuy nhiên, chỉ sau một lần đi tham quan ở Thái Lan, thấy có những mô hình trồng chuối rất thành công, ông Thu quyết định mua giống về trồng thử. “Tôi trồng giống chuối tây lai Thái Lan này thấy rất hợp với đất và khi hậu lại dễ chăm sóc, buồn to, quả đều, có buồng còn cho 15 -16 lải. Nếu bán theo kg để xuất sang Trung Quốc cũng được 25.000 đồng/kg, tương đương với hơn 1 triệu đồng 1 cây chuối.

Trong khi, trồng na cũng có thu nhập cao, ổn định thật nhưng rất vất vả, tốn nhiều công chăm sóc, mỗi năm phải mất khoảng 300 triệu tiền thuê công nhân, chuối thì trồng lại nhàn hơn nên tôi đã quyết định chuyển đổi một lần nữa”, ông Thu nói. Cả một vườn na bao công chăm bón đang cho thu hoạch, ông Thu lại đưa máy móc và thuê nhân công chặt bỏ hết, một lần nữa, ông lại bị người dân địa phương cho là bị khùng điên. Ông chỉ cười và nói với mọi người đúng lời khuyên của các cụ để lại “trẻ trồng na, già trồng chuối”, tôi già rồi giờ chỉ trồng chuối cho nhanh được ăn, không còn đủ kiên nhẫn trồng cây lâu năm nữa, Bây giờ nhà tôi con cái lớn hết, đi làm ăn xa, không còn ai giúp đỡ, thiếu lao động nên chuyển sang trồng chuối cho ít công”, ông Thu cho biết.

Am hiểu kỹ thuật như kỹ sư nông nghiệp

Nếu một lần có dịp tới thăm vườn chuối của ông Thu với cây nào, cây ấy đều đều nhau tăm tắp, tất cả đều đang ra hoa hoặc có buồng, chuẩn bị cho thu hoạch vào đúng dịp Tết Nguyên đán như ông đã dự tính thì chắc chắn chẳng ai còn nhớ tới hay tiếc nuối vườn na trước đó của ông nữa. Những người đã từng cho rằng ông Thu là khùng, điên khi chặt bỏ na đi cũng sẽ phải trầm trồ khen ngợi, thậm chí có rất nhiều người đã tới gia đình ông mua giống chuối này về và học hỏi kinh nghiệm từ ông để trồng theo.

Đi thăm vườn chuối của ông, được nghe ông chia sẻ về những kinh nghiệm trồng trọt như kỹ sư nông nghiệp, chúng tôi mới hiểu hết, vì sao một người nông dân không hề qua trường lớp gì mà lại thành công trong nông nghiệp như ông. Ông kể lại hành chính đến với trồng chuối cũng đầy công phu. Lúc đầu, khi biết được giống chuối này ở Thái Lan là rất tuyệt với rồi, tôi cũng chỉ đem giống về trồng thử nhưng cũng bị chết hoặc năng suất rất kém. Thể là tôi bỏ lại hết việc nhà, “khăn gói quả mướp” vượt hàng nghìn km vào Đồng bằng sông Cửu Long, nơi được coi là thủ phủ của chuối tây để tham quan, học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình trồng chuối của họ. “Tôi còn nhớ, đã bỏ cả tháng trời để đi 13 tỉnh ở miền Tây xem họ làm gì có lợi nhuận cao nhất. Sau đó, tôi tiếp tục đi các tỉnh miền Trung để tham quan, học hỏi những mô hình thanh long, mô hình trồng bưởi, trồng mít…”, ông Thu nói

Ngôi nhà khang trang được xây nên từ tiền trồng chuối.
Nói về kinh nghiệm trồng chuối tây, ông cho biết, ở miền Nam người ta trồng khoảng 12 tháng nhưng nếu chăm tốt như tôi áp dụng chỉ 7-9 tháng chuối đã trổ. Chuối tây là giống ưa nhiệt nên cần phải trồng sớm, từ tháng 1-5 là phải xuống giống nhưng càng sớm thì năng suất càng cao, nếu để tới cuối tháng 5 mới trồng thì năng suất cũng sẽ kém đi. Loại chuối tây cũng rất “phàm ăn”, do đó tốt nhất là phải có phân chuồng bón lót trước khi trồng và sau khi chuối lên xanh tốt có thể bón thêm lân, đạm nhưng đặc biệt giống chuối cao này phải có kali để giúp cho cây cứng cáp, ít sâu bệnh và khi ra buồng mẫu mã sẽ bóng đẹp.

Đang trò chuyện với ông Thu, nhiều bà con cũng tìm đến hỏi kinh nghiệp: “Vườn chuối nhà tôi chẳng hiểu sao lại xuất hiện vàng lá, ông có cách chưa không?”, một người dân trong xã hỏi. Ông Thu có thể nói ngay ra được, đó là bệnh sâu tầu dẫn tới vàng lá, chỉ cần thấy xuất hiện là phun ngay thuốc sẽ chữa khỏi. Rồi ông Thu lấy ra một tờ giấy viết cận thận loại thuốc trừ sâu và cách thức phun hướng dẫn cho những bà con trong xã đang mắc sâu bệnh chẳng khác gì một “bác sỹ” cây trồng ở địa phương. “Trồng cây gì cũng thế, cần phải có bí quyết, từ chọn giống cho đến thời vụ và chăm sóc cũng đều phải có “bí quyết” nhưng để có được “bí quyết” thì phải chịu khó tìm tòi”, ông Thu chia sẻ. Cũng nhờ có sự mày mò, tìm tỏi học hỏi từ thực tế, nhiều cuộc hội nghị, hội thảo ở xã liên quan tới phòng chống dịch bệnh cho cây trồng, cán bộ xã đều mời ông Thu lên truyền đạt những kinh nghiệm phòng chống dịch bệnh cho bà con trong xã.

Với đức tính cần cù chịu khó, người nông dân chất phác, mộc mạc không ngại khổ, ngại khó, giành hết tâm huyết cho trồng trọt đã giúp ông làm giàu ngay trên mành vườn của gia đình mình. Hiện nay, mỗi năm từ trồng trọt cũng đem lại thu nhập cho ông Thu hàng tỉ đồng, riêng vụ chuối năm nay dự kiến 3 tỷ đồng. Từ trồng trọt, ông Thu đã xây được một ngôi biệt thự khang trang, sắm sửa đầy đủ các phương tiện sinh hoạt đắt tiền và đặc biệt là ông Thu còn có cả xe hơi trị giá vài trăm triệu đồng.
“Cùng với 3 vạn gốc chuối tây Thái Lan hiện tôi đang trồng xen kẽ dưới tán chuối 4.000 gốc thanh long, 2.000 gốc cam, quýt và 2.000 gốc bưởi da xanh, 500 gốc mít siêu quả…đều đã lên xanh tốt, khi phát triển là tôi lại bỏ chuối để theo đuổi tiếp cho những loại cây đặc sản mới này. Việc không ngừng thay đổi cây trồng và đa dạng hoá sản phẩm sẽ là cách luôn giữ được giá bán tốt, cho thu nhập cao”, ông Thu nói.
(Theo Dân Việt)

Chuyện của PAN: Khi chủ tịch chứng khoán làm nông nghiệp

Nhiều người trong giới tài chính đã ngạc nhiên khi Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) trở thành cổ đông lớn của PAN...
 
Không chỉ IFC trở thành cổ đông lớn, GIC - quỹ đầu tư của Chính phủ Singapore, Mutual Fund Elite, TAEL, SSI, NDH Invest, CSC Vietnam cũng đã trở thành cổ đông lớn của PAN, với việc rót thêm 35 triệu USD vào PAN cách đây vài tuần.

Nhiều người trong giới tài chính đã ngạc nhiên khi Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) - thành viên của Ngân hàng Thế giới (WB) - trở thành cổ đông lớn của PAN, một công ty chuyên về nông nghiệp và thực phẩm Việt Nam.

Đáng chú ý, đây là thương vụ nhanh nhất trong hoạt động đầu tư của IFC tại Việt Nam, khi thời gian từ lúc tổ chức này tìm hiểu doanh nghiệp đến lúc mua cổ phần chỉ trong vòng hai tháng rưỡi.

Không chỉ IFC trở thành cổ đông lớn, The Government of Singapore Investment Corporation (GIC) - quỹ đầu tư của Chính phủ Singapore, Mutual Fund Elite (Phần Lan), TAEL (Singapore), SSI, NDH Invest, Công ty Cổ phần CSC Vietnam cũng đã trở thành cổ đông lớn của PAN, với việc rót thêm 35 triệu USD vào PAN cách đây vài tuần.

Những thương vụ lớn

Ngày 18/3/2014, Công ty Cổ phần Xuyên Thái Bình - Pan Pacific (mã PAN - HOSE) công bố hoàn tất đợt chào bán riêng lẻ 20,312 triệu cổ phiếu thu về 650 tỷ đồng (31 triệu USD).

Qua đợt phát hành này, TAEL sở hữu 20% cổ phần, quỹ Mutual Fund Elite nắm giữ 9,98% cổ phần, GIC Private Limited sở hữu 4,71% cổ phần, Công ty TNHH NDH Việt Nam (trên 13%), nhóm các công ty SSI (20%), CSC Việt Nam (5,05%)...

Sau đó, PAN hiện thực hóa chiến lược đầu tư mua lại và hợp nhất các công ty có hoạt động kinh doanh hiệu quả trong ngành thủy sản, nông nghiệp, và chế biến thực phẩm tiêu dùng.

Và lần lượt, PAN tiến hành mua cổ phần Công ty Cổ phần Giống Cây trồng Trung ương (mã NSC-HOSE), Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Bến Tre (ABT) và nâng dần tỷ lệ sở hữu để đưa các hai công ty này thành công ty con.

Đi cùng với chiến lược mua bán sáp nhập hiệu quả, nhờ 88,8 tỷ đồng khoản doanh thu từ hoạt động tài chính (chủ yếu là cổ tức), lợi nhuận sau thuế của công ty mẹ PAN năm 2014 đạt 70,7 tỷ đồng, gấp 3 lần lợi nhuận 2013. Vốn chủ sở hữu của PAN tăng thêm 677 tỷ đồng trong 2014 lên 1.152 tỷ đồng,

Cùng với kết quả kinh doanh PAN tốt lên, ngày 22/1/2015, PAN công bố huy động thành công xấp xỉ 35 triệu USD trong đợt phát hành riêng lẻ 21,5 triệu cổ phiếu với mức giá 35.000 đồng/cổ phiếu.

Trong đợt phát hành này, IFC đã mua khoảng 5% và trở thành cổ đông chiến lược của PAN. GIC nâng tỷ lệ sở hữu lên 5% để chính thức trở thành cổ đông lớn của công ty. TAEL, Mutual Fund Elite cũng đăng ký mua thêm để sở hữu lần lượt 20% và xấp xỉ 10% cổ phần của PAN…

Sau đợt huy động vốn trên, PAN thông báo công ty con PAN Food đã hoàn tất thương vụ mua lại 25% cổ phần của Bibica, một công ty thực phẩm hàng tiêu dùng mới nổi sau sự hợp tác với nhóm công ty thuộc SSI và tập đoàn Hàn Quốc Lotte.

Có thể thấy, quy mô của PAN tăng khá nhanh với sự tham gia của các nhà đầu tư tổ chức.

Đây là mô hình khác với nhiều công ty đang niêm yết trên sàn khi các cổ đông của PAN là những nhà đầu tư dài hạn, và kết quả hoạt động kinh doanh không bị ảnh hưởng bởi sự biến giá cổ phiếu trên sàn chứng khoán.

“PAN phù hợp với đầu tư dài hạn, chứ chưa phù hợp với nhà đầu tư lướt sóng vì thanh khoản chưa cao, do khối lượng cổ phiếu trôi nổi bên ngoài không nhiều!”, bà Nguyễn Trà My - Chủ tịch CSC Việt Nam, một cổ đông lớn của PAN, nói với VnEconomy.

“Cuộc chơi” nông nghiệp, thực phẩm

“Mong muốn trở thành công ty hàng đầu khu vực trong lĩnh vực nông nghiệp và thực phẩm”. Đây là chiến lược mà ông Nguyễn Duy Hưng, Chủ tịch PAN, đồng thời là Chủ tịch Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (SSI) khởi xướng và chuẩn bị từ nhiều năm trước.

Có lẽ chính uy tín của ông Hưng trên thị trường tài chính, cùng với các đồng sự là các chuyên gia nông nghiệp, tài chính ở PAN đã giúp công ty này tiếp cận được với các nhà đầu tư tổ chức và các cổ đông chiến lược am hiểu ngành nông nghiệp và thực phẩm.

Là người có gần 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực nông nghiệp, bà Nguyễn Trà My nói muốn chia sẻ chiến lược xây dựng và phát triển của bộ máy lãnh đạo PAN và muốn đầu tư vốn cũng như đóng góp kinh nghiệm, kiến thức để biến các ý tưởng của PAN thành hiện thực, mang lại lợi nhuận trên khoản đầu tư của mình.

Qua nhiều lần đầu tư vào PAN, CSC Việt Nam do bà My làm chủ tịch, nâng giá trị nắm giữ cổ phần PAN lên 5,05%, với giá trị thị trường trên 160 tỷ đồng, gấp 4 lần mệnh giá.

Bà Nguyễn Trà My cho rằng, việc GIC tăng vốn đầu tư, và IFC chính thức đầu tư vào PAN là tin vui cho cả hai phía - PAN và các cổ đông mới. Sự tham gia của các cổ đông lớn này sẽ khiến PAN trở nên uy tín hơn, cũng như sự cam kết hỗ trợ của các cổ đông sẽ giúp PAN trở thành công ty tầm cỡ quốc tế.

“Đây thực sự là hợp tác cùng có lợi đối với các cổ đông của PAN. Với các quỹ đầu tư, họ đã tìm được một địa chỉ hấp dẫn từ ngành nghề kinh doanh, cho tới kế hoạch tăng trưởng. PAN hiện đang sở hữu các công ty hàng đầu trong lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản và thực phẩm của Việt Nam như ABT, NSC, Công ty Cổ phần chế biến hàng xuất khẩu Long An”, bà Nguyễn Trà My nói.

PAN xác định tổ chức kinh doanh trong tương lai với việc phối hợp với Công ty Giống Cây trồng Trung ương trong kinh doanh nông sản, với PAN Food trong sản xuất, tiếp thị và bán các sản phẩm thực phẩm tiêu dùng nhanh.

Với dự kiến ​​sẽ đạt doanh thu 330 triệu USD, lợi nhuận ròng 40 triệu USD vào năm 2018 và nâng vốn hóa từ 125 triệu USD hiện nay lên 1 tỷ USD vào năm 2020, PAN phải có sự tăng trưởng rất nhanh mới đạt được mục tiêu trên. Và nhân tố con người có lẽ sẽ là yếu tố quyết định.

“Theo tôi, yếu tố khó khăn nhất trong việc quyết định thành bại là nguồn nhân lực. Do vậy, chúng tôi phải tạo ra một hệ thống phù hợp để có thể dung hòa được văn hóa của các chuyên gia, các nhà khoa học từ các đất nước khác nhau trong các ngành nghề đa dạng như: nông nghiệp, thủy sản, thực phẩm để có chung một ngôn ngữ, dưới cùng một mái nhà”, bà Nguyễn Trà My nói.

Trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp niêm yết đang khó khăn trong việc huy động vốn ngoại vào các lĩnh vực tài chính, bất động sản…, thì PAN lại tạo nên hiện tượng khi liên tục thu hút vốn chỉ để phát triển các sản phẩm gạo, hạt giống, bánh kẹo, các sản phẩm lúa gạo, thủy sản, các loại hạt…

Và do đó, hiện tượng PAN cũng là một điển hình với nhiều doanh nghiệp niêm yết có thể tham khảo khi tiếp cận các nhà đầu tư tổ chức, nhất là các tổ chức nước ngoài.  
Theo Vneconomy

20.000 tỷ đồng vào mắc-ca: “Không ai làm thì tôi cũng tự trồng”

Người trực tiếp xây dựng và triển khai nói gì về triển vọng phát triển cây mắc-ca tại Tây Nguyên?...
Ông Nguyễn Đức Hưởng, Phó chủ tịch Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank).
Tháng 4 năm ngoái, ông Nguyễn Đức Hưởng, Phó chủ tịch Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank), lần đầu tiên nói về kế hoạch đầu tư phát triển cây mắc-ca tại Tây Nguyên, với quy mô dự kiến ban đầu khoảng 10.000 tỷ đồng.

Đến đầu tuần này, hai đối tác triển khai đề án, Công ty Cổ phần Him Lam và LienVietPostBank, cho biết đã khảo sát và có thể mở rộng quy mô đầu tư phát triển mắc-ca, với số vốn dự kiến trên 20.000 tỷ đồng.

Ông Nguyễn Đức Hưởng, người có ý tưởng và trực tiếp xây dựng đề án, vừa có cuộc trao đổi với VnEconomy.

Muốn cho dân vay để trồng loại cây này
Thưa ông, từ năm ngoái, khi có thông tin về kế hoạch đầu tư nói trên, cũng đã có những hoài nghi... Nói một cách dân dã thì có phải là “chém gió” không?

Cũng dễ hiểu thôi. Trước đây nếu là tôi, nghe ai đó nói một kế hoạch như vậy thì tôi cũng nghĩ là “chém gió”. Vì nó còn mới quá, và chưa thấy thực tiễn tại Việt Nam. Ngay cả khi triển khai thì cũng phải mất 5-7 năm mới chứng minh được.

Năm ngoái, sau khi có kế hoạch trên, LienVietPostBank và Him Lam đã tổ chức nghiên cứu, thuê chuyên gia nước ngoài cùng làm, xây dựng quy trình cụ thể. Chúng tôi đã đề xuất với Ban Chỉ đạo Tây Nguyên tổ chức một hội thảo chuyên đề về phát triển loại cây này vào ngày 7/2 tới tại Đà Lạt để cùng thảo luận sâu hơn.

Vậy ý tưởng phát triển cây mắc-ca quy mô lớn tại Việt Nam có từ khi nào và bắt đầu như thế nào, thưa ông? Hay vì sao đến lúc này mới “nhìn thấy” loại cây này?

Cá nhân tôi đi công tác nước ngoài, thấy người ta dùng nhiều loại hạt này. Tìm hiểu kỹ thì thấy giá trị của nó và nhận thấy thực tế ở ta đã thí điểm thành công rồi, nhất là tại Tây Nguyên.

Tôi cũng đã gặp các đối tác là doanh nghiệp ngành thực phẩm bánh kẹo, dược mỹ phẩm. Họ lại đang đi tìm loại nguyên liệu này. Cung trong nước rất hạn chế, mà chủ yếu là nhập khẩu.

Trong khi đó, đất và điều kiện tự nhiên phù hợp với mắc-ca thì Việt Nam có. Cứ như trời cho vậy. Cho nên nếu không ai làm thì tôi cũng tự trồng. Ngay cá nhân tôi cũng đã đi tìm đất để tự mình làm.

Ý tưởng đó có cách đây hai năm rồi.

Là người làm ngân hàng, có vẻ như ngoại đạo khi ông và LienVietPostBank tập trung vào phát triển cây mắc-ca với quy mô dự kiến lớn như vậy?

Từ trước đến giờ chúng tôi luôn xác định nông dân là đối tượng khách hàng rất tốt cho ngân hàng. Chúng tôi đang cho vay trồng lúa, chăn nuôi, kể cả trồng cà phê. Nên với chúng tôi, làm mắc-ca là đúng việc.

Chúng tôi muốn mọi người quan tâm hơn đến nó, vì nó còn rất mới, làm sao để người dân đến với nó nhanh hơn, thành công đến nhanh hơn và họ đỡ vất vả hơn.

Ở khía cạnh sự tham gia của ngân hàng, tiềm năng như thế nào, thưa ông?

Mục tiêu của đề án là tạo công ăn việc làm, đổi mới cách làm, tạo hiệu quả kinh tế cao hơn cho người nông dân. Như tôi nói ở trên, họ là các khách hàng gần gũi của LienVietPostBank; họ làm ăn hiệu quả thì hoạt động cho vay của ngân hàng sẽ thuận lợi.

Chúng tôi sẽ tiên phong đứng ra xin đất làm giống, đầu tư giống, qua quy hoạch của địa phương, rồi hỗ trợ vốn trung dài hạn cho các hộ dân trồng loại cây này. Nếu có đất đai tốt, chúng tôi sẽ tổ chức trồng tập trung riêng.

Chúng tôi muốn cho dân vay để trồng loại cây này, cho vay trung dài hạn 7-10 năm. Theo tính toán thì đến năm thứ 7 là nông dân đã có thể thu hồi xong vốn và có lãi. Nó bền vững và điều này cần cho ngân hàng.

Còn tiềm năng của cây mắc-ca tại Việt Nam, hay tính khả thi của đề án, rồi vấn đề đầu ra nữa?

Việt Nam gần như chưa có sản phẩm mắc-ca để bán. Bởi, các hãng thực phẩm, bánh kẹo, mỹ phẩm đã mua sạch nguyên liệu rồi. Trên thế giới, các thống kê cho thấy nhiều năm rồi cung vẫn không đáp ứng đủ cầu.

Với chúng tôi, trước mắt chưa tính đến xuất khẩu, chỉ riêng đáp ứng trong nước đã đủ rồi.

Ở Việt Nam, có ba địa phương phù hợp nhất cho cây mắc-ca, với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng, là Đà Lạt, Đắc Nông và Kon Tum. Khu vực Tây Bắc cũng có thể, nhưng mưa hơi nhiều và sương muối… và vẫn phải thí điểm tiếp. Còn Tây Nguyên thì triển khai được rồi.

Tây Nguyên hiện có cây cà phê là chủ lực, nhưng phần lớn đã già cỗi, khoảng 60-70% đang đứng trước yêu cầu tái canh. Tuy nhiên, hiện nay chủ trương, quy hoạch và nguồn vốn cho tái canh cây cà phê vẫn nhiều vướng mắc.

Cây mắc-ca có thể thay thế cây cà phê hoặc trồng xen cũng được. Đưa mắc-ca vào, vẫn trồng cà phê bình thường, hai cây bổ trợ cho nhau. Cũng lưu ý là cây mắc-ca có thể cho khai thác tới 60 năm.

Dù cũng có những khó khăn nhất định! Tâm lý người dân, bỏ cây cà phê già cỗi dù vẫn đang cho thu hoạch, thay cây mới và chờ 4-5 năm nữa mới thu hoạch thì người ta khó làm. Nhưng nếu cứ thế này thì 4-5 năm nữa cây cà phê thoái hóa là trắng tay không có gì.

Tây Nguyên có khoảng 5 triệu ha cây công nghiệp, có thể trồng xen 1 triệu ha mắc-ca. Có thể trồng ngay được 250 nghìn ha, mà chừng đó thì cũng mới chỉ đáp ứng được nhu cầu trong nước, thay thế hàng nhập khẩu, phục vụ cho các ngành chế biến thực phẩm, bánh kẹo, mỹ phẩm…

Trong hội thảo tới, chúng tôi sẽ mời các doanh nghiệp, chuyên gia Nhật Bản. Trong các đợt tham khảo ở nước ngoài, khi đặt vấn đề hợp tác khép kín từ trồng vùng nguyên liệu đến bao tiêu sản phẩm, thì họ đồng ý làm ngay.

Lợi thế trời cho


Triển vọng là vậy, nhưng liệu có tình huống nào đó ngoài mong muốn trong tương lai, tương tự như chuyện người dân đốt mía, chặt sắn, cao su, đổ sữa… không, thưa ông?

Chúng tôi đã tính toán, từ bây giờ cho đến khi tạo được vùng nguyên liệu 500 đến 1 triệu ha thì mới chỉ đủ đáp ứng nhu cầu trong nước thôi. Nếu trồng được quy mô đó, Tây Nguyên sẽ trở thành thủ phủ mắc ca của Đông Nam Á.

Trên thế giới cũng mới chỉ có một số vùng chủ yếu như Nam Phi, Hawaii, Úc, một phần Vân Nam Trung Quốc… Thế giới vẫn mất cân đối cung - cầu, mà các khu vực có điều kiện tự nhiên để trồng và có được chất lượng hạt mắc-ca tốt không nhiều. Loại cây này kén thổ nhưỡng, khí hậu, chứ không phải muốn đại trà là được.

Như tôi nói, Tây Nguyên có được điều kiện tự nhiên rất phù hợp. Đó là lợi thế trời cho.

Còn về quy mô vốn, ông nói gì về năng lực của Him Lam và LienVietPostBank?

Khi có ý tưởng và xây dựng đề án, chúng tôi dự tính quy mô vốn cần cho đề án khoảng 10.000 tỷ đồng. Bởi lượng vốn đầu tư ban đầu cũng không quá nhiều.

Qua quá trình khảo sát, đánh giá tiềm năng của loại cây này, khi nó thu hút được sự tham gia của người dân, chúng tôi có thể đầu tư khoảng 20.000 - 25.000 tỷ đồng, trải ra trong khoảng 5 năm.

Quy mô đó là bình thường. Chúng tôi làm rồi. Không tổ chức nào tham gia thì cá nhân chúng tôi cũng vẫn làm.

Liệu có sự đặt cược hay mạo hiểm ở đây không?

Tất nhiên khi bỏ tiền ra thì phải đánh giá trước những dấu hiệu tiền quay trở lại. Nếu xem đó là đặt cược hay có mạo hiểm thì chúng tôi sẵn sàng. Nhưng tôi xem không có đặt cược ở đây, mà là cơ hội cần nắm lấy.

Còn với người dân, khi khảo sát và đi vào thực tế, ông có thấy họ e ngại hoặc hoài nghi không?

Tôi nhận thấy họ đang háo hức, vì thời gian thử nghiệm đã qua rồi. Người ta thấy các mô hình thành công rồi, nhưng chưa có ai đứng ra hô để làm, để có quy hoạch và tổ chức thực sự, mà đang tự phát.

Đúng ra chúng ta phải có chiến lược để hỗ trợ nông dân trước thực tế cây công nghiệp đang già cỗi. Trong khi đó, Tây Nguyên có được điều kiện tự nhiên trời cho, phải nắm lấy lợi thế đó.
Vneconomy

Tuesday, February 3, 2015

Trên 20.000 tỷ đồng cho “cây tỷ đô” tại Tây Nguyên

Him Lam và LienVietPostBank bắt đầu triển khai kế hoạch đầu tư hơn 20.000 tỷ đồng trồng mắc-ca...
Ngay tại Thanh Hóa, hiện đã có hộ dân chủ động được với vườn giống cây mắc ca - Ảnh: Quang Thái.

Ngày 7/2 tới, tại Đà Lạt, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên phối hợp cùng Ban Kinh tế Trung ương, UBND tỉnh Lâm Đồng sẽ tổ chức một hội thảo chuyên đề về phát triển cây mắc-ca (Macadamia) tại khu vực Tây Nguyên.

Tại hội thảo này, Công ty Cổ phần Him Lam và Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) sẽ giới thiệu lộ trình triển khai đề án đầu tư phát triển cây mắc-ca, dự kiến quy mô trên 20.000 tỷ đồng trong 5 năm đầu.

Đây là đề án đầu tiên hướng đến việc phát triển quy mô lớn loại cây này tại Việt Nam, được tổ chức từ tạo giống, quy hoạch vùng nguyên liệu và cho vay vốn, cũng như trực tiếp tham gia với các hộ nông dân trên địa bàn.

Đầu năm 2014, LienVietPostBank và Him Lam đã xây dựng đề án với trù tính quy mô khoảng 10.000 tỷ đồng, trong đó trực tiếp tham gia trồng 5.000 ha. Qua quá trình khảo sát, quy mô này được mở rộng dự kiến từ 20.000 - 25.000 tỷ đồng, bắt đầu triển khai cụ thể từ 2015.

Lãnh đạo LienVietPostBank cho biết, quy mô vốn dự kiến trên nằm trong khả năng của ngân hàng, được tính toán phù hợp với lượng giải ngân rải đều khoảng 5 năm, theo triển vọng phát triển được từ 250 - 500 nghìn ha tại các tỉnh Tây Nguyên (khu vực có điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp).

Hai đối tác trên quyết định triển khai sau khi khảo sát thực tế thành công của một số mô hình thí điểm tại Việt Nam.

“Đã có các mô hình triển khai thành công. Thế nhưng cây mắc-ca tại Việt Nam hiện vẫn phát triển tự phát và manh mún. Chúng tôi mong muốn đây sẽ là loại cây công nghiệp chiến lược và chủ lực, thu hút bà con nông dân tham gia và thực sự tạo được đổi thay tại Tây Nguyên, biến Tây Nguyên thành thủ phủ mắc-ca của khu vực Đông Nam Á”, một lãnh đạo LienVietPostBank nói.

Hội thảo sắp tới cũng sẽ tập trung vào mục tiêu trên, với sự tham gia của đại diện các ban ngành liên quan, các chuyên gia cùng doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Mắc ca hiện là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, được mệnh danh là “cây tỷ đô” tại Việt Nam, với nhu cầu lớn trên thị trường thế giới, đã được trồng thử trong nước từ hơn một thập kỷ trước. Các đánh giá cho thấy Tây Nguyên và Tây Bắc là hai khu vực thích hợp nhất để trồng mắc-ca tại Việt Nam, đặc biệt là Tây Nguyên.

Việc trồng thử nghiệm đã đem lại những kết quả khả quan, với năng suất khá cao. Tính đến tháng 9/2014, diện tích trồng mắc-ca tại Kon Tum là 50 ha, Gia Lai 80 ha, Đắc Lắc 500 ha, Đắc Nông 600 ha và Lâm Đồng 400 ha.
Theo Vneconomy

Mắc-ca âm thầm vào Tây Nguyên: Đã đến lúc “làm ăn lớn”?

Hiện giá 1 kg nhân hạt mắc-ca sản xuất trong nước lên tới 700 nghìn đồng/kg, tương đương hơn 33 USD/kg...
Giá nhân hạt mắc-ca nhập khẩu từ Úc hiện là 950 nghìn đồng/kg, tương đương khoảng 45 USD/kg.
10 năm âm thầm len lỏi cạnh cà phê, tiêu và điều, ít ai ngờ loài cây ngoại lai mắc-ca lại đang rất được ưa chuộng tại Tây Nguyên, đạt tới mức giá 700 nghìn/kg nhân hạt.

Một hội thảo lớn về loại cây này sẽ diễn ra tại Đà Lạt ngày 7/2 tới, mở đầu cho xu hướng đầu tư quy mô lớn của các doanh nghiệp, thay vì chỉ có hộ gia đình như hiện nay.

Cung mới đáp ứng 1/4 cầu


Theo ông Dương Công Minh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Him Lam, mấy năm qua, hạt mắc-ca rất được ưa chuộng tại Việt Nam, nhưng chủ yếu lại nhắm vào nhóm tiêu dùng là người nước ngoài, Việt kiều về nước và những người có thu nhập cao.

Ở thời điểm hiện tại, giá 1 kg nhân hạt mắc-ca sản xuất trong nước lên tới 700 nghìn đồng/kg, tương đương hơn 33 USD/kg. Trong khi, giá nhân hạt mắc-ca nhập khẩu từ Úc hiện là 950 nghìn đồng/kg, tương đương khoảng 45 USD/kg, cao hơn 36%.

Sở dĩ như vậy là do sản xuất trong nước còn manh mún, nguồn cung thấp, chất lượng chưa đạt chuẩn quốc tế như mắc-ca của Úc.

Ông Đinh Mạnh Đại, thôn Giang Mih, xã Eapuk, huyện Krong Năng, tỉnh Đắc Lắc, gắn bó với mắc-ca gần 5 năm kể, vào tháng 11/2010, ông đi dự hội thảo do Sở Khoa học và Công nghệ Đắc Lắc và Công ty Cổ phần Vinamaca tổ chức. Qua phân tích của các nhà khoa học, gia đình ông quyết định bỏ vốn 40 triệu đồng trồng thử.

Từ chỗ một gia đình ông trồng, đến nay, tại huyện này đã có tới 17.800 cây giống của nhiều hộ khác tham gia và khả năng đạt sản lượng 200 nghìn tấn quả vào năm 2015 là chắc chắn.

Với bà Kim Thị Định cũng ở huyện Krong Năng, thì câu chuyện mắc-ca gian truân hơn. Ban đầu, bà trồng xen mắc-ca với cà phê, kết quả thu hoạch tốt.

Tuy nhiên, vì không biết liên hệ đầu ra ở đâu nên bà định chặt bỏ. Một thời gian sau đó, nhiều đoàn chuyên gia từ Úc, Thái Lan, Nhật bản đến khảo sát và khẳng định loài cây này rất hợp với khí hậu, thổ nhưỡng Tây Nguyên khuyên bà giữ lại vườn cây.

Đến nay, vườn mắc-ca của gia đình bà đã tròn 10 năm tuổi, thu nhập ổn định và vượt trội so với trồng cà phê.

Phân tích tổng quan, ông Nguyễn Trí Ngọc, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển công nghệ nông lâm nghiệp Thành Tây cho biết, nhu cầu thị trường toàn thế giới đến 2020 cần khoảng 220 nghìn tấn nhân, tương đương 650 nghìn tấn hạt vỏ; trong khi nhu cầu đáp ứng đến thời điểm đó chỉ đáp ứng được 25 - 30%.

Đã đến lúc “làm ăn lớn”?


Mặc dù hạt nhân mắc-ca được sử dụng cho các ngành chế biến thực phẩm, đồ ăn khô, hóa mỹ phẩm, sản phẩm làm đẹp nhưng trên thế giới không phải nơi nào cũng trồng được. Kể cả những khu vực được cho là trồng được, thì cũng chỉ có những nơi có tiểu vùng khí hậu phù hợp.

Ví dụ, các chuyên gia nước ngoài khảo sát ở khu vực Tây Nguyên thì thấy Lâm Đồng là nơi trồng lý tưởng nhất, bên cạnh một số huyện ở các tỉnh lân cận.

Chính vì mắc-ca rất “kén” điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu nên đó lại là lợi thế so sánh của Việt Nam. Điều này cũng lý giải vì sao hạt mắc-ca có giá trị lớn, đã được ưa chuộng trên thế giới hàng chục năm nay nhưng chưa bao giờ cung đủ cầu.

Ông Huỳnh Ngọc Huy, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Liên Việt cho rằng, trên thế giới hiện nay mới chỉ có Nam Phi và Úc là hai cường quốc mắc-ca. Trong khi đó, mặc dù Việt Nam khá thuận lợi về điều kiện tự nhiên nhưng lâu nay do quy mô sản xuất theo hộ nên phần lớn chỉ để cung cấp cây giống, hạt giống và hoàn toàn chưa xuất hiện mô hình sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị: sản xuất, chế biến, phân phối.

Chưa kể, sự tác động của chính sách vào loại cây trồng được cho là “cây tỷ đô” này vẫn còn hết sức mờ nhạt. Thậm chí, có chính sách rồi nhưng việc thực thi lại chưa đến nơi đến chốn mà thắc mắc của ông Đinh Mạnh Đại là một ví dụ.

Ông Đại nói: “Nghị định 210/2013/NĐ-CP, điều 12 có ghi rõ: trồng đủ 50 ha mắc-ca theo dự án thì hỗ trợ 15.000 đồng/ha để chăm sóc vườn. Nay vườn cây chúng tôi đạt trên 100 ha nhưng vẫn chưa được hỗ trợ đồng nào. Nếu có hỗ trợ thì Nhà nước nên cho dân biết và tổ chức thực hiện nghiêm túc”.

Hiện, Công ty Cổ phần Him Lam đã tiến hành dự án nghiên cứu tổng thể về cây mắc-ca tại Tây Nguyên, và sẽ là doanh nghiệp đầu tiên xung phong đầu tư vào loại cây này trên quy mô lớn.

Trước mắt, công ty này sẽ phối hợp với Ban Kinh tế Trung ương, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên tổ chức một hội thảo chuyên ngành vào ngày 7/2 tới tại Đà Lạt, quy tụ hàng chục chuyên gia và hàng trăm khách mời là những người hiểu biết rất rõ về mắc-ca, và là chủ các dự án nhỏ trồng cây mắc-ca trong 10 năm qua.

Quan điểm “làm ăn lớn” của Him Lam cũng nhận được đồng tình của ông Lê Văn Minh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lâm Đồng: “Muốn có một vùng nguyên liệu lâu dài và bền vững, trước tiên cần có quy hoạch, phân vùng, ưu tiên và tạo điều kiện cho các công ty đã được UBND tỉnh Lâm Đồng thống nhất chủ trương triển khai vùng nguyên liệu trong thời gian qua. Đồng thời, tiếp tục kêu gọi các tổ chức, cá nhân cùng tham gia đầu tư mở rộng vùng nguyên liệu, xây dựng nhà máy chế biến mắc-ca tại địa phương”.

Vneconomy