Showing posts with label Nhật Bản. Show all posts
Showing posts with label Nhật Bản. Show all posts

Monday, March 30, 2015

6 cách hiệu quả khi làm ăn với người Nhật

Người Nhật đánh giá rất cao thị trường Việt Nam và luôn sẵn sàng hợp tác khi có cơ hội tốt. Nhưng đa phần người Việt làm ăn với người Nhật lại thất bại. Nếu muốn có kết quả tốt khi làm ăn với người Nhật cần chú ý các điểm sau đây:
1. Trả lời tất cả email, tin nhắn

Đối với người Nhật, dù là doanh nghiệp lớn hay nhỏ nhưng khi một khi đã gửi email cho họ thì nhất định họ sẽ trả lời lại, dù email đó chỉ là một việc nhỏ. 

Trong trường hợp email đó không thể trả lời được hay không thể đáp ứng được yêu cầu của người gửi, họ sẽ tìm cách gửi lời xác nhận là đã nhận và đọc nó.

Ở Việt Nam thì ngược lại. Chỉ có những email quan trọng mới được trả lời, thậm chí còn quên trả lời. 

Cho nên nếu bạn muốn tương tác tốt với người Nhật, doanh nghiệp Nhật thì trước hết cần tập dần thói quen trả lời email hay tin nhắn, dù nội dung trong đó đề cập đến một việc nhỏ hay không quan trọng gì. 

Trong trường hợp không trả lời được thì cần phải xác nhận là đã nhận được email.

2. Chào, hỏi thành thật

Không những thế, người Nhật rất quan trọng việc “dạ", "thưa” hay nói cách khác là việc chào hỏi người đối diện, trong bất cứ trường hợp nào. 

Vì vậy, muốn hợp tác làm ăn với người Nhật, bạn cần tập cho mình thói quen biết chào, hỏi với thái độ thật chân thành. Họ sẽ đánh giá rất cao bạn.

3. Luôn giữ lời hứa

Đặc điểm nổi bật khi làm việc với các nhà kinh doanh người Nhật là phải giữ chữ tín, giữ lời hứa dù là những việc nhỏ nhất.

Người Nhật rất coi trọng ấn tượng trong buổi gặp mặt hay đợt giao dịch đầu tiên. Điều này có nghĩa khi bạn không thực hiện được lời hứa với họ, đầu tiên phải xin lỗi, cho dù vì bất kỳ lý do gì. Việc giải thích lý do phải được thực hiện hết sức khéo léo sau đó và vào những thời điểm phù hợp. 

 
Nếu muốn quảng bá một sản phẩm tới người tiêu dùng tại đây thì doanh nghiệp Việt nên quảng cáo bằng video bởi người Nhật rất thích câu “trăm nghe không bằng một thấy”. 

Người Nhật thường đánh giá một con người hay một doanh nghiệp qua lời hứa của họ. 

Trong 1 cuộc hẹn nếu không giữ lời hứa được thì cần phải liên lạc trước cho đối phương biết. Khi làm việc với khách hàng người Nhật, cần chủ động lựa chọn phương tiện hợp lý và thời gian để tránh bị muộn vì lý do tắc đường.

Trong khi đó, người Việt thường đến trễ so với giờ hẹn và không báo trước. Hẹn đúng giờ sẽ không thấy mặt mà 10 phút sau thông báo là tôi đang tới. Sau 20 phút cũng nói là tôi gần tới. Sau 30 phút lại nói là tôi có khả năng không đến được. Và hơn 1 tiếng sau là thông báo tôi không thể được. 

Nếu không thể đến được cuộc hẹn, bạn cần phải báo trước 20 phút, thậm chí 30 phút để đối tác Nhật được biết.

4. Thời gian làm việc là để làm việc

Trong thời gian làm việc, người Nhật thường không liên lạc với gia đình, bạn bè mà chỉ tập trung cho công việc. Nếu có nói chuyện thì câu chuyện đó cũng chỉ xoay quanh về... vấn đề công việc.

Vì thế, nếu muốn hợp tác thành công thì người Việt cần tập thói quen làm việc thật nghiêm túc. Trong thời gian làm việc chỉ nên tập trung cho công việc.

5. Truyền miệng và quảng bá bằng video

Vì các doanh nghiệp Nhật Bản đa phần chỉ biết tiếng Nhật nên họ rất hạn chế trong việc cập nhật thông tin. Để tìm hiểu và đánh giá một đối tác, phương pháp nhanh nhất mà họ chọn là truyền miệng. 
Chỉ cần một đối tác Việt được người Nhật đánh giá tốt thì tự nhiên các người khác sẽ tự tìm đến để hợp tác. Ngược lại, nếu sản phẩm không được đánh giá tốt thì các doanh nghiệp còn lại trong lĩnh vực đó sẽ tự động rút lui và từ chối hợp tác.

Không những vậy, Chính quyền Nhật chỉ cho phép giảng dạy một ngôn ngữ duy nhất trong các trường học là tiếng Nhật nên việc nói tiếng Anh của người Nhật rất hạn chế. Vì vậy, trước khi đàm phán, người Việt cần chuẩn bị sẵn người biết tiếng Nhật để dễ dàng giao dịch hơn.

Nếu muốn quảng bá một sản phẩm tới người tiêu dùng tại Nhật thì doanh nghiệp Việt nên quảng cáo bằng video, bởi người Nhật rất thích câu “trăm nghe không bằng một thấy”. 

6. Tận dụng danh thiếp

Nhật Bản là một trong những nước hay sử dụng danh thiếp nhất thế giới. Việc không có danh thiếp sẽ không để lại ấn tượng tốt với khách hàng. 

Khi nhận danh thiếp cần nhận bằng hai tay rồi đọc những thông tin được in trên đó thật cẩn thận. Người kinh doanh không được cất danh thiếp vào túi mà cần bỏ vào một chiếc hộp thật cẩn thận để sử dụng nó. 

Đây được coi như là phần quyết định đến việc thành bại của buổi giao dịch.

Với những bí quyết trên do chính người Nhật chia sẻ, chúc các bạn thành công khi hợp tác làm ăn với người Nhật!

Phan Diệu
* Ghi lại theo lời chia sẻ của ông Jun Takagi - nhà sáng lập tập đoàn Ubiquitous và dự án Japan Circle tại hội thảo Japan Circle CEO Caravan, tổ chức tại TP.HCM ngày 23.3.

Theo Một Thế Giới

Monday, March 23, 2015

Vingroup chính thức nhảy vào nông nghiệp

Một thông báo vừa phát đi từ Vingroup cho biết tập đoàn này chính thức gia nhập lĩnh vực nông nghiệp, với thương hiệu VinEco. 
Nông sản của VinEco sẽ đi theo hệ thống siêu thị Vinmart và cửa hàng tiện lợi Vinmart+.
Theo đó, sứ mệnh của VinEco là "cung cấp nguồn thực phẩm sạch, an toàn vì sức khỏe của người dân Việt và các thế hệ tương lai, tiến tới việc đưa một số nông sản thế mạnh Việt Nam ra thế giới".

Công ty VinEco có số vốn điều lệ 2.000 tỷ đồng, sẽ triển khai các hoạt động nông nghiệp tại nhiều địa phương trên cả nước, trong đó, tập trung bước đầu vào lĩnh vực trồng trọt, áp dụng các công nghệ và kỹ thuật tiên tiến để cung cấp rau quả hữu cơ và rau quả sạch cho thị trường, theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP.

Nguồn tin từ Vingroup cho biết, để đảm bảo chất lượng, VinEco quy hoạch các vùng sản xuất theo mô hình tập trung và khép kín. Các khâu từ nghiên cứu, công nghệ giống, sản xuất, thu hoạch, bảo quản sau thu hoạch đến chế biến, vận chuyển… sẽ được thực hiện theo quy trình khoa học, tuân thủ các tiêu chí về chất lượng và an toàn, vệ sinh thực phẩm.

Đồng thời, nhờ triển khai trên quy mô lớn và được đầu tư bài bản, VinEco có điều kiện đưa các loại máy nông nghiệp hiện đại vào quy trình sản xuất nhằm tối ưu hiệu quả và đảm bảo chất lượng nông sản. Dự kiến, công ty này sẽ làm việc với các đối tác từ các nền nông nghiệp nổi tiếng thế giới như Israel, Nhật Bản, Hà Lan… để nhận tư vấn và chuyển nhượng công nghệ, kỹ thuật, giống và thiết bị nông nghiệp.

Lao động địa phương cũng sẽ được VinEco tuyển dụng và đào tạo để phát triển một đội ngũ công nhân nông nghiệp chuyên môn cao và có khả năng ứng dụng các công nghệ trồng trọt tiên tiến nhất.

Về đầu ra, theo Vingroup, nông sản của VinEco sẽ đi theo hệ thống siêu thị Vinmart và cửa hàng tiện lợi Vinmart+ đang được “phủ sóng” toàn quốc, nhằm khép kín chu trình từ khâu gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, vận chuyển đến bán lẻ, vừa tối ưu về giá thành vừa đảm bảo chất lượng nông sản. Tuy nhiên, công ty cũng sẽ cung cấp cho các đối tác khác.

Bên cạnh sản phẩm rau quả sạch, VinEco cũng sẽ sản xuất các sản phẩm rau quả hữu cơ; đồng thời đi sâu nghiên cứu và sản xuất một số loại nông sản thế mạnh của Việt Nam, hướng tới xuất khẩu.

Theo Vneconomy

Tuesday, February 3, 2015

Mắc-ca âm thầm vào Tây Nguyên: Đã đến lúc “làm ăn lớn”?

Hiện giá 1 kg nhân hạt mắc-ca sản xuất trong nước lên tới 700 nghìn đồng/kg, tương đương hơn 33 USD/kg...
Giá nhân hạt mắc-ca nhập khẩu từ Úc hiện là 950 nghìn đồng/kg, tương đương khoảng 45 USD/kg.
10 năm âm thầm len lỏi cạnh cà phê, tiêu và điều, ít ai ngờ loài cây ngoại lai mắc-ca lại đang rất được ưa chuộng tại Tây Nguyên, đạt tới mức giá 700 nghìn/kg nhân hạt.

Một hội thảo lớn về loại cây này sẽ diễn ra tại Đà Lạt ngày 7/2 tới, mở đầu cho xu hướng đầu tư quy mô lớn của các doanh nghiệp, thay vì chỉ có hộ gia đình như hiện nay.

Cung mới đáp ứng 1/4 cầu


Theo ông Dương Công Minh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Him Lam, mấy năm qua, hạt mắc-ca rất được ưa chuộng tại Việt Nam, nhưng chủ yếu lại nhắm vào nhóm tiêu dùng là người nước ngoài, Việt kiều về nước và những người có thu nhập cao.

Ở thời điểm hiện tại, giá 1 kg nhân hạt mắc-ca sản xuất trong nước lên tới 700 nghìn đồng/kg, tương đương hơn 33 USD/kg. Trong khi, giá nhân hạt mắc-ca nhập khẩu từ Úc hiện là 950 nghìn đồng/kg, tương đương khoảng 45 USD/kg, cao hơn 36%.

Sở dĩ như vậy là do sản xuất trong nước còn manh mún, nguồn cung thấp, chất lượng chưa đạt chuẩn quốc tế như mắc-ca của Úc.

Ông Đinh Mạnh Đại, thôn Giang Mih, xã Eapuk, huyện Krong Năng, tỉnh Đắc Lắc, gắn bó với mắc-ca gần 5 năm kể, vào tháng 11/2010, ông đi dự hội thảo do Sở Khoa học và Công nghệ Đắc Lắc và Công ty Cổ phần Vinamaca tổ chức. Qua phân tích của các nhà khoa học, gia đình ông quyết định bỏ vốn 40 triệu đồng trồng thử.

Từ chỗ một gia đình ông trồng, đến nay, tại huyện này đã có tới 17.800 cây giống của nhiều hộ khác tham gia và khả năng đạt sản lượng 200 nghìn tấn quả vào năm 2015 là chắc chắn.

Với bà Kim Thị Định cũng ở huyện Krong Năng, thì câu chuyện mắc-ca gian truân hơn. Ban đầu, bà trồng xen mắc-ca với cà phê, kết quả thu hoạch tốt.

Tuy nhiên, vì không biết liên hệ đầu ra ở đâu nên bà định chặt bỏ. Một thời gian sau đó, nhiều đoàn chuyên gia từ Úc, Thái Lan, Nhật bản đến khảo sát và khẳng định loài cây này rất hợp với khí hậu, thổ nhưỡng Tây Nguyên khuyên bà giữ lại vườn cây.

Đến nay, vườn mắc-ca của gia đình bà đã tròn 10 năm tuổi, thu nhập ổn định và vượt trội so với trồng cà phê.

Phân tích tổng quan, ông Nguyễn Trí Ngọc, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển công nghệ nông lâm nghiệp Thành Tây cho biết, nhu cầu thị trường toàn thế giới đến 2020 cần khoảng 220 nghìn tấn nhân, tương đương 650 nghìn tấn hạt vỏ; trong khi nhu cầu đáp ứng đến thời điểm đó chỉ đáp ứng được 25 - 30%.

Đã đến lúc “làm ăn lớn”?


Mặc dù hạt nhân mắc-ca được sử dụng cho các ngành chế biến thực phẩm, đồ ăn khô, hóa mỹ phẩm, sản phẩm làm đẹp nhưng trên thế giới không phải nơi nào cũng trồng được. Kể cả những khu vực được cho là trồng được, thì cũng chỉ có những nơi có tiểu vùng khí hậu phù hợp.

Ví dụ, các chuyên gia nước ngoài khảo sát ở khu vực Tây Nguyên thì thấy Lâm Đồng là nơi trồng lý tưởng nhất, bên cạnh một số huyện ở các tỉnh lân cận.

Chính vì mắc-ca rất “kén” điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu nên đó lại là lợi thế so sánh của Việt Nam. Điều này cũng lý giải vì sao hạt mắc-ca có giá trị lớn, đã được ưa chuộng trên thế giới hàng chục năm nay nhưng chưa bao giờ cung đủ cầu.

Ông Huỳnh Ngọc Huy, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Liên Việt cho rằng, trên thế giới hiện nay mới chỉ có Nam Phi và Úc là hai cường quốc mắc-ca. Trong khi đó, mặc dù Việt Nam khá thuận lợi về điều kiện tự nhiên nhưng lâu nay do quy mô sản xuất theo hộ nên phần lớn chỉ để cung cấp cây giống, hạt giống và hoàn toàn chưa xuất hiện mô hình sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị: sản xuất, chế biến, phân phối.

Chưa kể, sự tác động của chính sách vào loại cây trồng được cho là “cây tỷ đô” này vẫn còn hết sức mờ nhạt. Thậm chí, có chính sách rồi nhưng việc thực thi lại chưa đến nơi đến chốn mà thắc mắc của ông Đinh Mạnh Đại là một ví dụ.

Ông Đại nói: “Nghị định 210/2013/NĐ-CP, điều 12 có ghi rõ: trồng đủ 50 ha mắc-ca theo dự án thì hỗ trợ 15.000 đồng/ha để chăm sóc vườn. Nay vườn cây chúng tôi đạt trên 100 ha nhưng vẫn chưa được hỗ trợ đồng nào. Nếu có hỗ trợ thì Nhà nước nên cho dân biết và tổ chức thực hiện nghiêm túc”.

Hiện, Công ty Cổ phần Him Lam đã tiến hành dự án nghiên cứu tổng thể về cây mắc-ca tại Tây Nguyên, và sẽ là doanh nghiệp đầu tiên xung phong đầu tư vào loại cây này trên quy mô lớn.

Trước mắt, công ty này sẽ phối hợp với Ban Kinh tế Trung ương, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên tổ chức một hội thảo chuyên ngành vào ngày 7/2 tới tại Đà Lạt, quy tụ hàng chục chuyên gia và hàng trăm khách mời là những người hiểu biết rất rõ về mắc-ca, và là chủ các dự án nhỏ trồng cây mắc-ca trong 10 năm qua.

Quan điểm “làm ăn lớn” của Him Lam cũng nhận được đồng tình của ông Lê Văn Minh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lâm Đồng: “Muốn có một vùng nguyên liệu lâu dài và bền vững, trước tiên cần có quy hoạch, phân vùng, ưu tiên và tạo điều kiện cho các công ty đã được UBND tỉnh Lâm Đồng thống nhất chủ trương triển khai vùng nguyên liệu trong thời gian qua. Đồng thời, tiếp tục kêu gọi các tổ chức, cá nhân cùng tham gia đầu tư mở rộng vùng nguyên liệu, xây dựng nhà máy chế biến mắc-ca tại địa phương”.

Vneconomy

Thursday, December 25, 2014

8x người Nhật một mình tìm đường kinh doanh tại Việt Nam

Tôi đã làm hết tất cả những chuyện có thể từ A đến Z, đơn giản vì chỉ có mình tôi ở Việt Nam. Có những thời điểm tôi đã không biết mình đang làm gì nữa, dường như tôi đã bị mất định hướng... 
Giới thiệu nhân vật: SHINGO HAYASHI - Tổng giám đốc Terra Motors Việt Nam

Anh Hayashi tham gia công ty với tư cách là thành viên sáng lập. Anh làm việc ở bộ phận Tiếp Thị và Truyền Thông của Công ty Terra Motors tại Nhật Bản. Từ tháng 07, năm 2012, anh Hayashi được cử sang Việt Nam để thành lập Công ty Terra Motors Việt Nam và đảm nhận Chức vụ Tổng Giám Đốc tại Việt Nam. Anh Hayashi tốt nghiệp Đại Học Waseda, một trong những trường đại học tư hàng đầu Nhật Bản.

Vào tháng 4/2010, cách đây hơn 4 năm, tôi bắt đầu khởi nghiệp với vai trò là nhân viên thực tập tại công ty Terra Motors với hiện trạng là một con số 0 tròn trĩnh.

Tài liệu đầu tiên mà tôi soạn thảo tại công ty là viết về bố mẹ mình. Vì vào thởi điểm đó, Terra Motors gần như không có sản phẩm gì, không có khách hàng, không có website, nói chung là một công ty Terra Motors không có gì cả.

Tôi có nhận một cuộc điện thoại gọi tới và chợt nghĩ rằng “Số điện thoại này đến từ đâu vậy nhỉ? Sao có người lại biết về công ty mình?”. Nói chung tôi bắt đầu công việc khi mọi thứ còn rất mơ hồ.
Tất nhiên là không có bất kỳ sự đào tạo hay huấn luyện nào. Tôi bắt đầu bằng việc lái một chiếc xe tải nhẹ mà chưa bao giờ thử lái trước đó để vận chuyển các xe máy điện đi khắp nước Nhật và khiêm luôn vị trí bán hàng. Có vài khách hàng khó tính đã la hét và bảo tôi ra về, tôi đã ngồi khóc trong xe trong suốt chặng đường...

Thời điểm đó, dù vẫn đang còn là sinh viên đại học, tuy nhiên tôi lại không đến trường mà dành hầu hết thời gian trong ngày cho công việc và nghỉ ngơi ngay tại công ty. Những lúc bắt buộc phải lên lớp, tôi thường mang theo chiếc laptop yêu quý của mình, tỏ ra là một sinh viên "ngoan ngoãn" nhưng thực tình là tôi đang làm việc. Rốt cục thì tôi cũng tốt nghiệp đại học với kết quả không đến nỗi tệ lắm.

Vào những dịp hè, tôi thường bỏ tất cả đống đồ đạc vào trong vali sau đó rời công ty vào cuổi ngày chủ nhật và trở lại công ty vào ngày thứ 2 đầu tuần. Tôi cũng chỉ tắm tại các quán cafe Manga để tiết kiệm chi phí. Không chỉ riêng tôi, mà hầu hết mọi người trong công ty đều có cuộc sống như vậy.
Vào mùa thu năm 2010, khi công ty được đăng tin lên những tờ báo hàng đầu và những công ty truyền thông lớn, tôi đã nhảy lên ăn mừng và vui sướng tột độ.
Shingo (phía sau) cùng các lãnh đạo tại Terra Motors Nhật Bản.

Shingo (phía sau) cùng các lãnh đạo tại Terra Motors Nhật Bản.


3 năm trước, một mình tôi đại diện cho công ty đến Việt Nam, lúc đó tôi chỉ mới 24 tuổi.
Hành trang của tôi lại là một con số không tròn trĩnh, tôi không có kinh nghiệm và không có bất kỳ mối quan hệ nào, hầu như không biết gì về đất nước Việt Nam, không khách hàng và không đối tác. Và tôi không thể giao tiếp bằng tiếng Anh nhiều như đã nghĩ.

Trong suốt 1 năm rưỡi đầu tiên, tôi làm việc với hầu hết thời gian là ở quán cafe và chỉ một mình mà không có bất kỳ nhân viên nào. Sau đó là quãng thời gian thành lập công ty, tìm kiếm đối tác cung cấp linh kiện, bắt đầu các hoạt động tìm hiểu thị trường, xúc tiến kinh doanh, tuyển dụng nhân sự và biên soạn websites...

Tôi đã làm hết tất cả những chuyện có thể từ A đến Z, đơn giản vì chỉ có mình tôi ở Việt Nam. Có những thời điểm tiến độ dự án bị đình trệ, tôi còn không biết mình đang làm gì nữa, dường như tôi đã bị mất định hướng. Khoảng thời gian đó, tôi bắt đầu có cảm giác lười biếng và có những lúc chỉ biết đi chơi.

Cô đơn và trì trệ! Đó là khoảng thời gian khó khăn nhất đối với khi rơi vào trạng thái như vậy. Nhưng tôi đã sống sót bằng cách nào đó cho đến ngày nay là nhờ sự hỗ trợ của rất nhiều người dân Việt Nam.

Nếu so với cái thời đó thì cuộc sống bây giờ của tôi đã thú vị hơn nhiều. Thư từ giao dịch từ khách hàng và đối tác đến hàng ngày, có văn phòng, cùng làm với các nhân viên người Việt, nhà máy đã hoạt động và bắt đầu cho ra thị trường những sản phẩm chất lượng đầu tiên.

Thật sự như là một giấc mơ vậy! So với mục tiêu đề ra thì kết quả bán hàng và lợi nhuận vẫn còn xa, có thể phải cần ít nhất sáu tháng kể từ bây giờ. Tuy nhiên, đó là kết quả của thời gian dài kiên trì chờ đợi.

Terra Motors giờ đây đã trở thành công ty sản xuất xe điện số 1 tại Nhật Bản, còn tôi có thể tự hào rằng kết quả đó cũng có một phần không nhỏ đóng góp từ nỗ lực không biết mệt mỏi của bản thân.
Câu chuyện của tôi là như thế đó. Tôi đã vượt qua quãng đường có lẽ là khó khăn nhất trong sự nghiệp, và cuối cùng tôi đã có cảm giác mình có thể chiến thắng ở Việt Nam và ở Châu Á.
Theo Trí Thức Trẻ

Saturday, December 20, 2014

Sự khác biệt về giá trị công việc giữa người Việt Nam và Nhật Bản

Người Nhật tỏ ra trung thành với công ty mình đang làm hơn người Việt. 
Khảo sát mới đây về “Giá trị công việc giữa người Việt Nam và Nhật Bản” do Công ty Asia Plus tiến hành đã cho thấy phần nào sự khác biệt giữa quan niệm về nghề nghiệp và công việc giữa lao động trẻ hai nước.


Chọn việc

Theo đó, cả người Việt và người Nhật đều chọn lương là yếu tố quan trọng để lựa chọn công việc. Tuy nhiên, yếu tố "Phù hợp với kỹ năng" được nhiều người Việt lựa chọn thì lao động Nhật lại không quan tâm lắm. Ngược lại, trong khi người Nhật coi trọng yếu tố "Nhiệm vụ thú vị", còn người Việt thì không.


[Infographic] Sự khác biệt về giá trị công việc giữa người Việt Nam và Nhật Bản (1)

Top 5 yếu tố cần thiết khi chọn vào làm một công ty lớn.

Duy trì công việc

Người Nhật cũng tỏ ra trung thành với công ty mình đang làm hơn người Việt. Cụ thể là chỉ có 44% người được hỏi ở Nhật từng thay đổi công việc, trong khi tỷ lệ này ở Việt Nam lên đến 74%.




[Infographic] Sự khác biệt về giá trị công việc giữa người Việt Nam và Nhật Bản (2)

Top 3 động lực làm việc.

Bỏ việc

Người Việt nghỉ việc bởi vì “Lương thấp”, “Công việc không phù hợp” và “Chế độ đãi ngộ ít”. Người Nhật nghỉ việc bởi vì “mâu thuẫn với quản lý” hoặc “thời gian làm việc dài”, tỷ lệ này cao hơn Việt Nam.


[Infographic] Sự khác biệt về giá trị công việc giữa người Việt Nam và Nhật Bản (3)

Sếp tốt và Sếp không tốt trong mắt nhân viên.

Gần 70% người Việt được hỏi cho biết muốn làm việc ở công ty nước ngoài tại Việt Nam: Sự so sánh về hình ảnh của công ty Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc trong mắt lao động Việt Nam:

- Công ty Nhật Bản “nghiêm túc” và “có chất lượng cao” hơn.

- Công ty Mỹ được biết đến “lương cao” và “nhiều cơ hội thăng tiến”.

- Công ty Hàn Quốc không có hình ảnh rõ ràng khi so sánh với Nhật Bản và Mỹ.

Xem infographic tóm lược:


[Infographic] Sự khác biệt về giá trị công việc giữa người Việt Nam và Nhật Bản (4)

Theo Trí Thức Trẻ

Wednesday, December 17, 2014

'DN Việt thành lập 30 năm không bằng DN Nhật mới ra đời 1 tháng’

“Doanh nghiệp Việt Nam thành lập 30 năm sang Nhật Bản người ta chẳng hiểu gì, trong khi doanh nghiệp Nhật Bản mới thành lập 1 tháng sang Việt Nam rất ‘oách’. Vì nói đến Nhật Bản, người ta hiểu rằng thương hiệu quốc gia này hơn hẳn Việt Nam” – Thứ trưởng Bộ Công thương. 
 
Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Thắng Hải đã nhận định như trên tại buổi họp báo giới thiệu Lễ Công bố Chương trình Thương hiệu Quốc gia (Vietnam Value) 2014 diễn ra chiều 16/12.

Ông Hải cho biết: “Mặc dù rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam làm hơn các doanh nghiệp Nhật Bản nhưng vì thương hiệu quốc gia kém nên họ phải chấp nhận việc đã có thương hiệu ở quốc gia Việt Nam 30 năm nay nhưng vẫn kém một doanh nghiệp Nhật Bản mới thành lập 1 tháng. Việc này chúng ta phải xem lại”.

“Thương hiệu chúng ta kém Nhật Bản, chúng ta phải thẳng thắn thừa nhận điều đó. Đấy là thiệt thòi của các doanh nghiệp Việt Nam”.

Tìm thương hiệu mang tên Việt Nam

Chương trình Thương hiệu Quốc gia, theo Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải, là chương trình duy nhất của Chính phủ để quảng bá thương hiệu quốc gia.

Danh sách các doanh nghiệp có thương hiệu sản phẩm đạt Thương hiệu Quốc gia năm 2014 đã được Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng có quyết định công nhận, gồm 63 doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác nhau, gồm các ngành cơ khí - máy móc - thiết bị, dệt may - da giầy, điện - điện tử - công nghệ thông tin - viễn thông, ngân hàng, thủ công mỹ nghệ, dược phẩm – hóa mỹ phẩm...

Việc lựa chọn các doanh nghiệp có thương hiệu sản phẩm đạt Thương hiệu Quốc gia được tiến hành 2 năm một lần, nhằm khuyến khích các doanh nghiệp tiếp tục chia sẻ và theo đuổi các giá trị của chương trình.

Bộ tiêu chí của chương trình, theo Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải, phải đấu thầu quốc tế để lựa chọn. Bộ tiêu chí này gồm gần 30 tiêu chí bám trên 3 giá trị: Chất lượng, Đổi mới - Sáng tạo và Tiên phong, dẫn dắt thị trường.

“Không chỉ đánh giá dựa trên doanh số, quy mô mà còn đánh giá qua nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp và nghĩa vụ về mặt xã hội như chế độ bảo hiểm xã hội, chế độ cho người lao động, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với cộng đồng nói chung. Nói cách khác, là các yếu tố bền vững của doanh nghiệp thể hiện qua cách bảo vệ môi trường và nhiều yếu tố khác chứ không chỉ đơn thuần đánh giá dựa trên doanh thu, lợi nhuận”, Cục trưởng Cục Xúc tiến Thương mại Bùi Huy Sơn, Tổng Thư ký Chương trình Thương hiệu Quốc gia, cho biết.

Chỉ hỗ trợ thương hiệu cho doanh nghiệp lớn?

Việc công bố các doanh nghiệp có thương hiệu sản phẩm đạt Thương hiệu Quốc gia chỉ là bước khởi đầu, sau nữa là việc phối kết hợp giữa các cơ quan, Chính phủ, phối kết hợp với tất cả các bộ ngành khác, với các địa phương để xây dựng các thương hiệu, trước hết là thương hiệu của chính các doanh nghiệp.

“Khi đã đạt được mức độ nhận biết trên thế giới, trước hết là trên thị trường Việt Nam, sẽ mang lại thương hiệu quốc gia, sự hiểu biết cũng như tiếng nói” – Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải cho biết.

“Tại sao doanh nghiệp Nhật mới thành lập 1 tháng đã được hưởng lợi ích của thương hiệu quốc gia Nhật Bản? Tại sao chúng ta 30 năm rồi không bằng một doanh nghiệp mới thành lập 1 tháng? Điều đó chúng ta phải hiểu được”.

Thứ trưởng Hải cũng chia sẻ, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng thắc mắc là tại sao doanh nghiệp đăng ký không được, tại sao doanh nghiệp đã nhỏ lại không được chương trình hỗ trợ mà chương trình lại hỗ trợ các doanh nghiệp lớn.

“Chúng tôi có rất nhiều chương trình như chương trình xúc tiến thương mại quốc gia dành cho doanh nghiêp nhỏ và vừa. Còn chương trình này hỗ trợ doanh nghiệp lớn. Không phải cứ doanh nghiệp lớn là chúng tôi hỗ trợ, mà khi hỗ trợ cho doanh nghiệp sẽ mang lại thương hiệu cho cả quốc gia Việt Nam, mang lại hiệu ứng hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa khác và cho tất cả các doanh nghiệp Việt Nam” – Thứ trưởng Hải phân tích thêm.


Lễ công bố các doanh nghiệp có thương hiệu sản phẩm đạt Thương hiệu Quốc gia năm 2014 sẽ được tổ chức vào 20h30 ngày 23/12/2014 tại Nhà hát Lớn Hà Nội, được truyền hình trực tiếp trên kênh VTV2 Đài Truyền hình Việt Nam.

Ngày 25/12, các doanh nghiệp được công nhận sẽ có buổi tiếp kiến báo cáo Chủ tịch nước Trương Tấn Sang về kết quả triển khai chương trình.

Chương trình Thương hiệu Quốc gia là chương trình duy nhất của chính phủ để quảng bá thương hiệu quốc gia, được tổ chức định kỳ 2 năm một lần kể từ năm 2008.

Số lượng các doanh nghiệp được lựa chọn trong chương trình đã tăng đáng kể qua các năm, từ 30 (2008), sau tăng dần lên 43 (2010), rồi 54 (2012) và giờ là 63. Trong số 63 doanh nghiệp được công nhận năm nay, có 48 doanh nghiệp đã đạt Thương hiệu Quốc gia và tiếp tục được lựa chọn (23 doanh nghiệp 4 lần liên tiếp đạt Thương hiệu Quốc gia, 11 doanh nghiệp có 3 lần liên tiếp đạt, và 14 doanh nghiệp có 2 lần liên tiếp đạt danh hiệu này), 15 doanh nghiệp đăng ký mới đáp ứng đủ các tiêu chí lựa chọn.

Theo Trí Thức Trẻ

Monday, December 15, 2014

Muốn hiểu châu Á, hãy đọc cuốn sách này như Bill Gates

Cuốn sách How Asia Works của Studwell là một cái nhìn tuyệt vời vào những yếu tố đã dẫn dắt sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng tại một số nước châu Á. 

Mới đây, tỷ phú Bill Gates có giới thiệu về cuốn sách mà ông khá tâm đắc, lý giải về sự trỗi dậy thần kỳ của một số quốc gia châu Á. Đây là câu hỏi lớn đối với những nhà kinh tế học cũng như những người quan tâm đến nguồn gốc phát triển của các châu lục trên thế giới. Sau đây là bài viết của ông được đăng tải trên LinkedIn:

Cuốn sách How Asia Works (Tạm dịch: Châu Á chuyển mình ra sao) của Studwell là một cái nhìn tuyệt vời vào những yếu tố đã dẫn dắt sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng tại một số nước châu Á. Tôi muốn giới thiệu nó tới bất cứ ai đang làm kinh doanh tại châu Á. Như tôi đã viết trong bài nhận xét vừa đăng tải trên trang blog cá nhân về những điều tôi chia sẻ dưới đây, cuốn sách này cũng khiếm tôi suy nghĩ về  những điều kỳ diệu châu Á có thể áp dụng tại Châu Phi, nơi mà Gates Foundation đang nỗ lực làm rất nhiều công việc.

Tôi đọc How Asia Works bởi nó lý giải, trả lời hai câu hỏi lớn nhất tại những nền kinh tế phát triển: Bằng cách nào những quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, và Trung Quốc đạt được sự bền vững, tăng trưởng cao và trở nhành những câu chuyện thành công kinh điển. Và tại sao có quá ít công ty thực hiện chính sách quản lý như vậy. Những câu trả lời rõ ràng có thể  đem lại lợi ích cho hàng tỷ người đang sống tại những quốc gia nghèo như có những nhân tố cần thiết để trở thành những nền kinh tế phát triển.

Tôi rất vui để thông báo rằng Studwell, một nhà báo kinh tế thông minh, đã đem đến những câu trả lời khá thay vì những dẫn dắt, lập lập khá mơ hồ của những nhà kinh tế học. Tôi tìm thấy trong cuốn sách những điều khá hấp dẫn. Studwell giải thích lịch sử kinh tế một cách ngắn gọn và dễ hiểu. Tôi đã yêu cầu toàn bộ nhóm Nông nghiệp trong quỹ đọc nó bởi những hiểu biết đặc biệt sâu sắc về vai trò quan trọng của nông nghiệp hộ gia đình đối với sự phát triển kinh tế.

Câu trả lời của Studwell đối với câu hỏi hàng nghìn tỷ USD về việc tại sao một số nước châu Á phát triển nhanh chóng và những nước khác (Philippines, Indonesia, Thái Lan) thì không? Studwell cung cấp một công thức ba phần đơn giản:

1. Tạo điều kiện cho hộ nông dân nhỏ phát triển mạnh.

2. Sử dụng số tiền thu được từ thặng dư nông nghiệp để xây dựng một cơ sở sản xuất đóng vai trò là công cụ cho việc bắt đầu sản xuất để xuất khẩu.

3. Nuôi dưỡng cả hai nhân tố (nông nghiệp nhỏ và sản xuất định hướng xuất khẩu) với các tổ chức tài schinhs được kiểm soát chặt  nuôi dưỡng cả các ngành (nông nghiệp nhỏ và sản xuất định hướng xuất khẩu) với các tổ chức tài chính được kiểm soát chặt chẽ của chính phủ.

Dưới đây là công thức được triển khai sâu hơn một chút:

Nông nghiệp: Cuốn sách của Studwell đã thực hiện một công việc tốt hơn so với bất cứ điều thứ khác tôi từng đọc về việc khớp nối vai trò quan trọng của nông nghiệp trong sự phát triển. Ông giải thích rằng một trong những điều mà tất cả các quốc gia nghèo hiện đang khá dồi dào là lao động nông nghiệp-thường chiếm tới ba phần tư dân số đất nước. Thật không may, hầu hết các nước nghèo có chính sách đất đai có lợi cho những chủ đất giàu có, với đông đảo nông dân nghèo đang làm việc cho họ. Studwell lập luận rằng những chính sách này không chỉ tạo ra sự bất bình đẳng rất lớn mà chúng cũng dẫn tới năng suất cây trồng tệ hại.

Ngược lại, ông cho biết, khi bạn cung cấp cho nông dân quyền sở hữu những  suất đất khiêm tốn và cho phép họ hưởng lợi từ thành quả lao động của mình, sản lượng nông nghiệp sẽ cao hơn trên mỗi hecta. Và sản lượng tăng giúp những nước này đang tạo ra thặng dư và tiết kiệm mà họ cần để tăng sức mạnh cho cỗ máy sản xuất của mình.

Sản xuất: Studwell lập luận rằng một khi các nước đang sản xuất nông sản dư thừa ổn định, họ nên bắt đầu chuyển sang giai đoạn sản xuất phát triển. Ông chỉ ra một trường hợp mang tính lịch sử quan trọng là những nước thành công không chỉ đơn giản dựa vào sưc mạnh của bàn tay vô hình; họ bổ sung những nguồn lực thị trường với bàn tay sắt của chính sách định hướng công nghiệp hóa của nhà nước. Các nước này gia nhập vào một sự kết hợp của chế độ bảo hộ (Nuông chiều những ngành công nghiệp non trẻ để đem đến cho họ thời gian có thể cạnh tranh trên toàn cầu) và sau đó những kẻ thu cuộc sẽ bị loại bỏ (cắt đứt những nguồn lực cho các công ty không thành công trên các thị trường xuất khẩu).

Tài chính: Studwell chỉ ra rằng những quốc gia đang phát triển nhanh chóng thường hứa suông về những nguyên tắc thị trường tự do trong khi thực sự giữ những tổ chức tài chính của họ trong vòng kiểm soát chặt chẽ. Nói cách khác, họ ban hành những chính sách để bảo vệ mình chống lại những cú sốc và sự trói buộc của dòng chảy vốn toàn cầu, và họ chắc chắn rằng những tổ chức tài chính phục vụ cho sự phát triển lâu dài của đất nước chứ không phải là lợi ích ngắn hạn của những tổ chức này.

Từ cuốn sách, tôi nhận ra nhiều thông điệp có thể mang về áp dụng cho công việc của quỹ chúng tôi. Tôi sẽ làm nổi bật hai điều.

Trước tiên, tôi đánh giá cao tư duy Studwell về những kinh tế nông nghiệp. Dựa trên số liệu về sản lượng cây trồng và sản lượng nông nghiệp đầu ra nói chung, ông lập luận rằng sự phát triển nông nghiệp hóa nhanh chóng đòi hỏi sự tái phân phối đất đai công bằng hơn giữa những người nông dân. Đến nay, tôi đã không tập trung nhiều vào quyền sở hữu đất đai như việc tôi đang làm để có những hạt giống tốt hơn, phân bón và tập quán canh tác. Cuốn sách này khiến tôi muốn tìm hiểu thêm về bức tranh quyền sở hữu đất đai tại các nước mà quỹ của chúng tôi rót vốn vào.

Thứ hai, Studwell đã kích thích tôi suy nghĩ rất nhiều về việc đưa công thức 3 phần ứng dụng vào châu Phi như việc nó đã thành công tại châu Á. Dĩ nhiên, các mảnh ghép nông nghiệp áp dụng tốt và có nhiều lợi ích kinh tế và sức khỏe. Các câu hỏi lớn đối với tôi là: Các nước châu Phi có thể trở thành trung tâm sản xuất định hướng xuất khẩu thành công hay không? Tôi nhìn thấy tiềm năng này ở các nước như Ethiopia và Djibouti. Họ đã có một kết nối mạnh mẽ với Trung Quốc và những kế hoạch kinh tế dài hạn đầy tham vọng. Thật không may, nhiều quốc gia khác trên lục địa này không có những yếu tố thành công tương tự, đặc biệt là những nước nằm sâu trong với cơ sở hạ tầng rất kém. Giúp nông dân ở các nước phát triển với nhiều thực phẩm và kiếm được nhiều tiền hơn sẽ là một sự trợ giúp lớn đối với chính họ.

How Asia Works không phải là cuốn sách hướng tới những đọc giả thông thường, nhưng nó là thứ đáng đọc cho bất cứ ai muốn tìm hiểu điều gì thực sự xác định liệu một nền kinh tế đang phát triển sẽ thành công. Công thức của Studwell khá mới mẻ và rõ ràng ngay cả khi nó rất khó khăn để thực hiện.
Theo Trí Thức Trẻ/LinkedIn

Biến rác thành tiền theo kiểu Nhật

Ở thành phố Kawasaki (Nhật), các doanh nghiệp không chỉ có ý thức bảo vệ môi trường, mà họ còn biến rác thành tiền...
Hàng ngày, một lượng lớn vỏ chai nhựa được cho vào thùng rác. Ô nhiễm chất thải rắn trở thành một vấn đề của nhiều thành phố. Tuy nhiên, ở thành phố Kawasaki (Nhật), Công ty Pet Refine Technology (PRT) lại đang ăn nên làm ra nhờ việc gom rác thải và chế biến thành vật liệu tái sinh.


Mỗi ngày, PRT thu mua rác thải là những vỏ chai nhựa từ các thành phố như Tokyo, Kawasaki... để tái chế chúng. Giá thu mua rất rẻ nên đầu vào khá thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh của công ty.<br>
Mỗi ngày, PRT thu mua rác thải là những vỏ chai nhựa từ các thành phố như Tokyo, Kawasaki... để tái chế chúng. Giá thu mua rất rẻ nên đầu vào khá thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh của công ty.
Bà Toshiko Ito, người đứng đầu bộ phận kế hoạch, bán hàng của PRT, cho biết, công ty được thành lập tháng 10/2008 với quy mô ban đầu 72 người lao động.
Bà Toshiko Ito, người đứng đầu bộ phận kế hoạch, bán hàng của PRT, cho biết, công ty được thành lập tháng 10/2008 với quy mô ban đầu 72 người lao động.
Cũng theo bà Toshiko Ito, mỗi năm nhà máy xử lý được 680.000 tấn chai nhựa. Dù chi phí thu mua thấp nhưng bà từ chối trả lời mức doanh thu và lợi nhuận vì đây là "bí mật kinh doanh".
Cũng theo bà Toshiko Ito, mỗi năm nhà máy xử lý được 680.000 tấn chai nhựa. Dù chi phí thu mua thấp nhưng bà từ chối trả lời mức doanh thu và lợi nhuận vì đây là "bí mật kinh doanh".
Từ những chai nhựa bỏ đi, qua quy trình tái chế phức tạp thì cho ra sản phẩm hạt nhựa trắng để tái chế ra chai nhựa mới. Sản phẩm hạt nhựa của PRT được xuất sang nhiều nơi, trong đó có thị trường Trung Quốc.
Từ những chai nhựa bỏ đi, qua quy trình tái chế phức tạp thì cho ra sản phẩm hạt nhựa trắng để tái chế ra chai nhựa mới. Sản phẩm hạt nhựa của PRT được xuất sang nhiều nơi, trong đó có thị trường Trung Quốc.
Đại diện PRT khẳng định, dây chuyền tái chế của công ty là hiện đại nhất thế giới và hiện chỉ có một nhà máy này do công ty chưa tính tới việc chuyển giao công nghệ, dù nhiều đối tác đã đến chào mua.<br>
Đại diện PRT khẳng định, dây chuyền tái chế của công ty là hiện đại nhất thế giới và hiện chỉ có một nhà máy này do công ty chưa tính tới việc chuyển giao công nghệ, dù nhiều đối tác đã đến chào mua.
Vốn đầu tư nhà máy tái chế rác nhựa này là 20 tỷ Yên (khoảng 177 triệu USD, tương đương 3,78 nghìn tỷ đồng). Chi phí đầu tư nhà máy không quá lớn so với quy mô một phần quan trọng nhờ công ty phát minh ra được dây chuyền tái chế, thay vì đi mua. Vì thế, tài sản quý giá nhất của công ty được cho là dây truyền tái chế rác hiện đại.
Vốn đầu tư nhà máy tái chế rác nhựa này là 20 tỷ Yên (khoảng 177 triệu USD, tương đương 3,78 nghìn tỷ đồng). Chi phí đầu tư nhà máy không quá lớn so với quy mô một phần quan trọng nhờ công ty phát minh ra được dây chuyền tái chế, thay vì đi mua. Vì thế, tài sản quý giá nhất của công ty được cho là dây truyền tái chế rác hiện đại.
Khác với PRT có mục tiêu quan trọng là biến rác thành tiền, nhà máy Ajinomoto tại thành phố Kawasaki lại đối mặt với việc phải xử lý nước thải để bảo vệ môi trường. Nhà máy có diện tích 350.000 m2 này hiện là nơi làm việc của 3.000 công nhân. <br>
Khác với PRT có mục tiêu quan trọng là biến rác thành tiền, nhà máy Ajinomoto tại thành phố Kawasaki lại đối mặt với việc phải xử lý nước thải để bảo vệ môi trường. Nhà máy có diện tích 350.000 m2 này hiện là nơi làm việc của 3.000 công nhân.
Theo ông Takashi Furukawa, Phó tổng giám đốc khối hành chính, an toàn  lao động và môi trường của Ajinomoto, mỗi ngày nhà máy tại Kawasaki sản  xuất 8.000 tấn sản phẩm bột ngọt, nước tương... Lượng nước thải, khí  thải, nhựa,... từ hoạt động sản xuất cũng rất lớn.
Theo ông Takashi Furukawa, Phó tổng giám đốc khối hành chính, an toàn lao động và môi trường của Ajinomoto, mỗi ngày nhà máy tại Kawasaki sản xuất 8.000 tấn sản phẩm bột ngọt, nước tương... Lượng nước thải, khí thải, nhựa,... từ hoạt động sản xuất cũng rất lớn.
Tuy nhiên, bằng việc đầu tư công nghệ hiện đại, các chất thải đã được tái chế làm thức ăn chăn nuôi, phân bón hóa học... Theo ước tính, riêng hệ thống xử lý nước thải của nhà máy mỗi ngày xử lý được 4 tấn chất thải làm nguyên liệu cho sản xuất phân bón hóa học (trong ảnh là nguyên liệu khô, kết quả xử lý nước thải).<br><br>Với một tập đoàn chuyên về thực phẩm hiện có 126 nhà máy, doanh thu 10 tỷ USD mỗi năm, việc xử lý chất thải thành nguyên liệu tái chế là quy trình bắt buộc của tập đoàn, đại diện Ajinomoto nói với VnEconomy.<br>
Tuy nhiên, bằng việc đầu tư công nghệ hiện đại, các chất thải đã được tái chế làm thức ăn chăn nuôi, phân bón hóa học... Theo ước tính, riêng hệ thống xử lý nước thải của nhà máy mỗi ngày xử lý được 4 tấn chất thải làm nguyên liệu cho sản xuất phân bón hóa học (trong ảnh là nguyên liệu khô, kết quả xử lý nước thải).

Với một tập đoàn chuyên về thực phẩm hiện có 126 nhà máy, doanh thu 10 tỷ USD mỗi năm, việc xử lý chất thải thành nguyên liệu tái chế là quy trình bắt buộc của tập đoàn, đại diện Ajinomoto nói với VnEconomy.
Trường hợp của PRT và nhà máy Ajinomoto tại thành phố Kawasaki chỉ là hai ví dụ điển hình về việc biến rác thành tiền và trách nhiệm phải bảo vệ môi trường. Bởi ở thành phố 1,45 triệu dân, GDP đạt 5,2 nghìn tỷ Yên này, từ năm 1970-1972, 45 nhà máy lớn nhất thành phố đã phải ký với chính quyền về việc cam kết bảo vệ môi trường.<br><br>Ông Satoru Yokota, Giám đốc điều hành Viện nghiên cứu môi trường Kawasaki (Cục Môi trường Kawasaki) cho hay, theo ký kết, các công ty ở thành phố tập trung nhiều tập đoàn lớn trên thế giới này phải có chính sách giảm thiểu ô nhiễm môi trường thông qua việc dùng các nguyên, nhiên liệu giảm thiểu ô nhiễm môi trường dùng cho sản xuất. Việc bảo vệ môi trường được chính quyền thành phố giao nhiệm vụ cho từng quận.
Trường hợp của PRT và nhà máy Ajinomoto tại thành phố Kawasaki chỉ là hai ví dụ điển hình về việc biến rác thành tiền và trách nhiệm phải bảo vệ môi trường. Bởi ở thành phố 1,45 triệu dân, GDP đạt 5,2 nghìn tỷ Yên này, từ năm 1970-1972, 45 nhà máy lớn nhất thành phố đã phải ký với chính quyền về việc cam kết bảo vệ môi trường.

Ông Satoru Yokota, Giám đốc điều hành Viện nghiên cứu môi trường Kawasaki (Cục Môi trường Kawasaki) cho hay, theo ký kết, các công ty ở thành phố tập trung nhiều tập đoàn lớn trên thế giới này phải có chính sách giảm thiểu ô nhiễm môi trường thông qua việc dùng các nguyên, nhiên liệu giảm thiểu ô nhiễm môi trường dùng cho sản xuất. Việc bảo vệ môi trường được chính quyền thành phố giao nhiệm vụ cho từng quận.
Ông Satoru Yokota cũng cho biết, lượng khí thải Sulfur giảm mạnh từ 45.879 tấn năm 1973 xuống dưới 15.000 tấn vào những năm 1986 và đến những năm gần đây xuống dưới 9.000 tấn. Tương tự, lượng khí thải Nitơ oxit cũng giảm rất mạnh.
Ông Satoru Yokota cũng cho biết, lượng khí thải Sulfur giảm mạnh từ 45.879 tấn năm 1973 xuống dưới 15.000 tấn vào những năm 1986 và đến những năm gần đây xuống dưới 9.000 tấn. Tương tự, lượng khí thải Nitơ oxit cũng giảm rất mạnh.
Ông Satoru Yokota nhấn mạnh, việc thành phố công nghiệp Kawasaki thành công trong việc bảo vệ môi trường xuất phát từ việc chính quyền đã triển khai thành công 3 giai đoạn, trong đó giai đoạn những năm 1970 đã có những chính sách bắt buộc các doanh nghiệp phải bảo vệ môi trường; giai đoạn 2 từ những năm 1980 các doanh nghiệp bắt đầu cải tiến công nghệ theo hướng bảo về môi trường; và giai đoạn 3 từ những năm 1990 đã thành công trong việc giáo dục, tuyên truyền về kiến thức và ý thức bảo vệ môi trường của người dân thành phố.
Ông Satoru Yokota nhấn mạnh, việc thành phố công nghiệp Kawasaki thành công trong việc bảo vệ môi trường xuất phát từ việc chính quyền đã triển khai thành công 3 giai đoạn, trong đó giai đoạn những năm 1970 đã có những chính sách bắt buộc các doanh nghiệp phải bảo vệ môi trường; giai đoạn 2 từ những năm 1980 các doanh nghiệp bắt đầu cải tiến công nghệ theo hướng bảo về môi trường; và giai đoạn 3 từ những năm 1990 đã thành công trong việc giáo dục, tuyên truyền về kiến thức và ý thức bảo vệ môi trường của người dân thành phố.
 Vneconomy

Sunday, December 14, 2014

Làng thần kỳ: Bài học làm nông của người Nhật

Người Nhật có thể thưởng thức xà lách được trồng trên đất Việt. Những búp xà lách được thu hoạch tại Làng thần kỳ ở thôn Đạ Nghịt, huyện Lạc Dương Lâm Đồng. 
"Dự án Làng thần kỳ đang có triển vọng lớn với đầu ra không giới hạn”, ông Nguyễn Văn Thành, Phó chủ tịch Hội đồng Quản trị công ty Liên doanh An Phú Lacue, cho biết.


Từ Kawakami Mura tới Đạ Nghịt

Sự ra đời của Liên doanh An Phú Lacue xuất phát từ ý tưởng khai phá thị trường Nhật sau khi công ty An Phú Đà Lạt (APP), cũng do ông Thành làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị, đã khá thành công trong việc chinh phục các thị trường như Mỹ (hiện xuất khoảng 8 container thanh long/tháng), Canada (2 container thanh long và đậu Hòa Lan/tháng)… Chính ý tưởng này đã kết nối ông với Giám đốc Quỹ đầu tư HT Capital tại Việt Nam - ông Hironosi Tsuchiya vào tháng 10/2013.

Thật tình cờ, vị đối tác người Nhật này trước đó cũng đã lui tới Đà Lạt khá nhiều lần để tìm kiếm cơ hội đầu tư. Nhận thấy đây là vùng đất trù phú, khí hậu khá thích hợp cho canh tác rau quanh năm, nhưng mức thu nhập của nông dân vẫn còn thấp và khá vất vả, ông Hironosi liên tưởng ngay đến Làng thần kỳ Kawakami thuộc tỉnh Nagano, ở phía tây Tokyo, nơi có điều kiện tự nhiên thua xa Lâm Đồng. Người dân làng này chỉ canh tác được 4 tháng (từ tháng 6 đến tháng 10), 8 tháng còn lại nhiệt độ xuống tới âm 20 độ C, nhưng thu nhập bình quân hộ gia đình lại tới mức 250.000 USD/năm.

Sau nhiều tháng khảo sát, hai bên đã quyết định thành lập công ty Liên doanh An Phú Lacue, với số vốn đầu tư ban đầu 1 triệu USD gồm ông Thành (25%), Quỹ HT Capital (73%) và một công ty khác trong nước (2%) nhằm hiện thực hóa mô hình Làng thần kỳ Kawakami tại thôn Đạ Nghịt trên diện tích 13 ha.

Đầu tháng 2 năm nay, công ty trồng thử nghiệm 13 loại giống rau trên diện tích 5.000 m2, trong đó chủ lực vẫn là loại xà lách Asagiri (nghĩa tiếng Nhật là sương mai do sản phẩm được thu hoạch vào lúc 5 giờ sáng).

Sau 70 ngày chờ đợi, niềm vui đã vỡ òa khi 3.000 cây xà lách đầu tiên được thu hoạch. “Tôi còn nhớ anh Takaya Hanaoka, một nông dân Nhật mới 35 tuổi, là Giám đốc Điều hành An Phú Lacue, đã ngồi uống bia suốt đêm ngay tại liếp xà lách do chính anh gieo hạt vì quá xúc động”, ông Thành nói.

Công đoạn thu hoạch và bảo quản sản phẩm đối với người Nhật là rất quan trọng. Ở làng Kawakami, xà lách được thu hoạch từ 3 - 6 giờ sáng và giữ trong kho lạnh, với nhiệt độ tương đương lúc thu hoạch, cho tới khi phân phối đến người dùng. Hiện An Phú Lacue cũng áp dụng cách này. Tại đây còn có hẳn một phầm mềm quản lý đồng ruộng. Những thông tin như loại giống nào, trồng bao nhiêu cây, trên bao nhiêu luống, lượng phân bón cho từng loại, từng luống đều được phần mềm hiển thị khá chi tiết, đến mức một nhân viên văn phòng cũng có thể nắm rõ được quy trình trồng, thu hoạch các loại nông sản tại đây.

Ông Thành cho biết, hiện công ty cung ứng sản lượng khoảng 400 kg xà lách/ngày cho hệ thống trung tâm thương mại Aeon, các nhà hàng Nhật tại TP.HCM và các siêu thị Big C. Kênh phân phối tiếp theo sẽ là hệ thống CoopMart và Family Mart.

Thênh thang đầu ra

Sau khi đi vào ổn định tại thị trường trong nước, An Phú Lacue đang chuẩn bị cho chiến lược mở rộng ra thị trường nước ngoài ngay trong tháng 12 này. Cụ thể, sản phẩm xà lách Asagiri sẽ được xuất khẩu qua Nhật, để phục vụ trước tiên cho nhu cầu tiêu dùng của người dân làng Kawakami trong các tháng không thể canh tác được do thời tiết giá lạnh (từ tháng 11 đến tháng 5 hằng năm). Nhưng mục tiêu lớn hơn là sản phẩm này sẽ được phân phối vào hàng chục ngàn siêu thị và cửa hàng tiện lợi của người Nhật ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Trước mắt, ngoài thị trường Nhật, công ty đang xúc tiến ký kết hợp đồng xuất khẩu nông sản sang Malaysia và Trung Quốc, thông qua đối tác là công ty Frais Funghi và Dong Sheng.

Tuy đầu ra cho sản phẩm là không giới hạn nhưng theo ông Thành, xà lách Asagiri còn phải vượt qua 3 yêu cầu trước khi có thể thâm nhập thị trường Nhật và khu vực. Rau phải đạt chuẩn nhập khẩu về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, sản lượng tối thiểu 10 container mỗi tháng, và quy trình xử lý bảo quản tại Việt Nam phải đạt chuẩn quốc tế.

“Với đầu ra không giới hạn sản lượng, hiệu quả kinh doanh của An Phú Lacue sẽ khá tích cực từ năm sau, vì giá thành sản phẩm dự kiến sẽ thấp hơn so với ở Nhật từ 20 - 30%”, ông Thành cho biết.

Trong năm sau, công ty sẽ xúc tiến Chương trình “Liên kết nông dân Đà Lạt” thông qua việc chuyển giao kỹ thuật và quy trình canh tác từ Nhật. Trong tương lai, An Phú Lacue cũng sẽ có chương trình đưa nông dân Đà Lạt tới học tập sản xuất ngay tại làng Kawakami ở Nhật.

“Tham vọng của chúng tôi là sẽ tăng vốn đầu tư cho dự án từ các nguồn lực trong và ngoài nước, đồng thời phát triển quy mô sản xuất từ mức 13 ha hiện nay lên tới khoảng 100 ha sau năm 2016, nhằm gia tăng tỷ suất sinh lời”, ông Thành cho biết.

Được biết, Làng thần kỳ ở Lâm Đồng chính là một trong hai dự án có sự tham gia của nhà đầu tư Nhật trong lĩnh vực nông nghiệp. Nếu so với con số lên tới 2.434 dự án FDI của Nhật tại Việt Nam hiện nay với tổng số vốn lên tới hàng chục tỷ USD, hai dự án nông nghiệp này vẫn còn rất khiêm tốn. Nhưng ý nghĩa của sự thành công và hiệu ứng lan tỏa của nó là không hề nhỏ trước thực tế thu hút vốn FDI vào nông nghiệp của Việt Nam vẫn còn yếu kém.

Mới đây, ông Yasuzumi Hirotaka, Giám đốc Ðiều hành Tổ chức Xúc tiến Ngoại thương Nhật tại TP.HCM, cho biết thủ tục nhập khẩu các thiết bị máy móc từ Nhật về Việt Nam để phục vụ sản xuất nông nghiệp hiện vẫn rất khó khăn. Khi có nhu cầu mua hay thuê đất để đầu tư nhà xưởng, các nhà đầu tư Nhật tiếp tục gặp nhiều vướng mắc. Các rào cản khác như thủ tục pháp lý, thiếu nguồn vật tư tại chỗ cho sản xuất nông nghiệp (phân bón, hạt giống...) cũng ảnh hưởng không ít.
“Từ mô hình Làng thần kỳ, tôi rút được 3 bài học từ người Nhật là tính kỷ luật cao, ý chí bền bĩ và sự minh mạch, tôn trọng trong quan hệ với đối tác Việt”, ông Thành khẳng định
Nhịp Cầu Đầu Tư

Wednesday, December 3, 2014

14 đặc điểm của giới tỷ phú thế giới

Theo trang Business Insider, thế giới có 12 triệu người là triệu phú USD, nhưng trong số đó chỉ có 2.325 người đạt tới địa vị tỷ phú. Dựa trên báo cáo Billionaire Census mà hãng nghiên cứu Wealth-X đưa ra mới đây, trang này đã tìm ra 14 đặc điểm của giới tỷ phú toàn cầu:

1. Tính bình quân, mỗi tỷ phú trên thế giới sở hữu khối tài sản ròng trị giá khoảng 3 tỷ USD, tương đương giá trị của công ty ứng dụng tin nhắn hình ảnh Snapchat.

2. Tổng tài sản của giới tỷ toàn cầu năm nay đạt 7,3 nghìn tỷ USD, tăng 12% so với năm ngoái. Con số này lớn hơn giá trị vốn hóa thị trường của tất cả các công ty trong chỉ số chứng khoán Dow Jones gộp lại. Ngoài ra, tổng tài sản của các tỷ phú còn lớn hơn cả GDP của Nhật Bản.

3. Tổng số 2.325 tỷ phú của thế giới đang nắm quyền kiểm soát 4% tài sản trên toàn cầu. Wealth-X cũng nói rằng, 1% dân số giàu nhất thế giới đang kiểm soát 40% tài sản trên toàn cầu.

4. Cứ 3 triệu người trên Trái Đất mới có 1 người là tỷ phú USD.

5. Châu Âu có nhiều tỷ phú hơn bất kỳ khu vực nào khác trên thế giới, với 775 người.

6. Nhưng Mỹ mới là nước có nhiều tỷ phú nhất trong số các quốc gia trên thế giới. Nước này có 571 tỷ phú, trong đó có 57 người mới đạt tới địa vị tỷ phú từ năm ngoái.

7. Có 60% số tỷ phú trên thế giới là những người tự tay gây dựng cơ đồ như Jack Ma hay Larry Ellison. Trong khi đó, 26,9% trở thành tỷ phú nhờ đầu tư tài sản được thừa kế. 13% thành tỷ phú ngay khi thừa kế.

8. Trở thành tỷ phú cũng mất kha khá thời gian. Tuổi trung bình của các tỷ phú trên thế giới là 63 tuổi. 93% số tỷ phú trên thế giới ở độ tuổi trên 45.

9. Các tỷ phú đầu tư nhiều vào bất động sản, với mức đầu tư trung bình vào lĩnh vực này là 160 triệu USD mỗi người. Họ thường có 4 bất động sản, và đây được xem là một đặc điểm của “lối sống tỷ phú”.

10. Các tỷ phú có xu hướng sở hữu “các tài sản đắt giá không phải là bất động sản”. Chẳng hạn, có 30 tỷ phú sở hữu một đội bóng hoặc một giải đua ngựa. Những tài sản khác mà các tỷ phú ưa thích bao gồm du thuyền, máy bay, siêu xe và các tác phẩm nghệ thuật.

11. Đa số tỷ phú thích kết hôn. 65% trong số họ có vợ/chồng.

12. Nhiều tỷ phú từng theo học các trường đại học danh giá nhất của Mỹ, hay còn gọi là nhóm trường Ivy League. Có hơn 700 trường đại học trên thế giới mà các tỷ phú từng theo học, nhưng Ivy League vẫn là nhóm trường sản sinh nhiều tỷ phú nhất. Trong đó, Đại học Pennsylvania có 22 tỷ phú, Đại học Harvard có 22 tỷ phú, và Đại học Yale có 20 tỷ phú.

13. Tuy vậy, vẫn có một con số đáng ngạc nhiên các tỷ phú không có bằng đại học. Có tới 35% tỷ phú của thế giới chưa từng tốt nghiệp đại học.

14. Các tỷ phú có xu hướng làm việc trong ngành tài chính. Khoảng 20% tỷ phú ghi dấu sự nghiệp ở Phố Wall hoặc các thị trường tài chính khác.
Theo Vneconomy 

Sunday, November 30, 2014

Nhật nới visa, du khách Việt lên ‘cơn sốt’

Việc Nhật Bản đơn giản thủ tục visa cho du khách Việt Nam như một chất kích thích du khách Việt Nam đặt tour đi chơi đất nước hoa anh đào nhiều hơn. Du lịch Nhật, nhất là du lịch kết hợp mua sắm đang là một ‘cơn sốt’ của du khách Việt.

Tăng cả hai chiều

Từ 20/11, Nhật Bản quết định nới thủ tục visa cho khách đi du lịch Nhật Bản. Theo đó, du khách chỉ cần nộp ảnh và đơn xin thị thực cho một trong 56 công ty du lịch được phía Nhật chỉ định là gần như đã xong thủ tục xin thị thực. Một số giấy tờ cần thiết mà người xin cấp thị thực phải chuẩn bị từ trước đến nay như giấy tờ chứng minh khả năng chi trả kinh phí cho chuyến đi…. được lược bỏ. Nhờ đó, một trong những khó khăn lớn nhất khi đi du lịch Nhật là xin visa đã được gỡ.

Điều này như kích thêm thêm ‘cơn sốt’ du lịch Nhật Bản đã nhen nhóm. Thống kê của Tổng cục Du lịch cho thấy, trong 8 tháng đầu năm 2014, số lượng khách Việt Nam sang Nhật Bản là 80.100 người, tăng 50% và gần bằng cả năm 2013. Và khi áp dụng thủ tục nới lỏng cho thị thực một lần, khách Việt Nam tới Nhật Bản sẽ tăng thêm nhiều lần.

Theo đó, thời gian tới, hai nước phấn đấu cho mục tiêu mỗi năm đưa 1 triệu du khách Nhật Bản sang Việt Nam và đưa 200.000 khách Việt Nam đến Nhật Bản. 
Việc Nhật Bản đơn giản thủ tục visa cho du khách Việt Nam như một chất kích thích du khách Việt đặt tour đi chơi đất nước hoa anh đào nhiều hơn

Ông Trần Đoàn Thế Duy, Phó Tổng Giám đốc công ty du lịch Vietravel cho biết: Nhật Bản vừa là điểm đến du lịch, vừa là nguồn khách nước ngoài Inbound. 


Khảo sát sơ bộ tài các DN cho thấy, số khách đi Nhật đã tăng qua từng tháng. Ở Vietravel, khách du lịch Nhật Bản 10 tháng đầu năm 2014 tăng 180 % so với cùng kỳ 2013. Trong khi đó, ở Newstar tour, khách mua tour du lịch Nhật Bản tăng đột biến khoảng 30% so với cùng kì năm ngoái thì nay với ưu đãi thị thực này, mùa đông này công ty dự kiến khách du lịch Nhật Bản tăng khoảng 50 – 70%.

Đại diện các DN cho rằng, với chính sách áp dụng thị thực một lần và việc Vietnam Airlines tích cực mở nhiều đường bay thẳng tới các thành phố lớn của Nhật Bản từ 3 điểm bay chính là Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, đường đến Nhật Bản của du khách Việt Nam sẽ rẻ và dễ dàng hơn nên khách sẽ tăng lên. 

Nhật Bản được du khách Việt Nam ưu thích bởi có nhiều cảnh đẹp và các chương trinh tham quan hợp lý. Nếu như trước đây, du khách Việt Nam mới chỉ biết đến các đường tour chính như Tokyo, Nagoya, Hakone, Kobe, Osaka… Thì nay, các DN đã khai thác thêm lựa chọn mới hấp dẫn như đảo Kyushu bao gồm các tỉnh Fukuoka, Nagasaki, Huis Ten Bosch, Kumamoto, Núi Aso, Beppu. Trong đó, Fukuoka có chuyến bay thẳng từ Việt Nam, kéo dài chỉ 4 giờ. 
Nhật Bản được du khách Việt Nam ưu thích bởi có nhiều cảnh đẹp


Ông Tetsuro Kawano - Giám đốc phát triển thị trường du lịch nước ngoài của Cục xúc tiến Du lịch vùng Kyushu cho biết “Du lịch Kyushu còn khá mới đối với du khách Việt Nam. Chúng tôi sẽ cố gắng giới thiệu đến du khách Việt Nam những sản phẩm với mức giá ưu đãi nhất nhằm gia tăng kích cầu du lịch”.

Nhờ sự hợp tác của các hãng bay, DN du lịch và công ty đối tác Nhật Bản mà giá tuor của nhiều DN lớn đến Kyushu đã giảm đáng kể trong thời giam qua. 

Kyushu là cửa ngõ phía Nam Nhật Bản để đến vùng đất liền của châu Á, và đây cũng là trung tâm giao thương giữa Nhật Bản và các quốc gia còn lại của châu Á. Đến Kyusu, du khách sẽ được thăm chùa Đại Âm tự - nơi lưu giữ phần mộ của công chúa Ngọc Hoa (con gái thứ 3 của chúa Nguyễn Phúc Nguyên) và hôn phu. Công chúa Ngọc Hoa là người Việt đầu tiên định cư tại Nhật Bản và là biểu tượng cho mối giao ban tốt đẹp giữa hai quốc gia Việt – Nhật.

Khi khám phá vùng Kyushu, du khách sẽ có cơ hội ngắm nhìn miệng núi lửa lớn nhất thế giới ở Vườn quốc gia Aso ở độ cao 1268m so với mực nước biển đang hoạt động.
Đến thăm tỉnh Beppu, du khách sẽ lạc vào thế giới của 2.849 suối nước nóng, ao bùn với 9 loại khoáng nóng khác nhau – một con số kỉ lục của thế giới. Hằng ngày có khoảng 136.212 ki lô lít nước nóng được phun ra từ mặt đất, thu hút hơn 4 triệu khách du lịch đổ về đây tắm suối nước nóng mỗi năm. 

Ông Lương Lê Vinh - Đội trưởng Đội khách đặc thù của VietNam Airlines cho biết, trong thời gian tới, Vietnam Airlines sẽ mở thêm nhiều chuyến bay tới vùng Kyushu, tạo điều kiện cho các công ty lữ hành đưa du khách Việt Nam sang du lịch vùng Kyushu cũng như các điểm khác ở Nhật với mức giá ưu đãi nhất. 

Theo Việt Nam Net

Thursday, November 27, 2014

10.000 kỹ sư IT và sứ mệnh kết nối Việt Nam - Nhật Bản

Chương trình đào tạo mới 10.000 kỹ sư của FPT Software đang gây chú ý trong giới công nghệ thông tin Nhật Bản và được tờ Nikkei ví như sự kết nối phát triển giữa hai đất nước.

FPT Software - một công ty công nghệ hàng đầu Việt Nam vừa công bố chương trình 10.000 kỹ sư cầu nối (BrigdeSE), dự án đưa các bạn trẻ đến Nhật tập huấn. Trong số báo mới ra, Nikkei nhận định chương trình này đặc biệt quan trọng, có thể trở thành cầu nối giữa 2 quốc gia và đặc biệt đáng chú ý khi lâu nay Trung Quốc là thị trường outsourcing lớn nhất cho Nhật Bản.

BrigdeSE là những kỹ sư phần mềm am hiểu tiếng Nhật và văn hóa Nhật. Họ giữ vai trò tìm hiểu yêu cầu từ các doanh nghiệp Nhật, mang những thông tin đó về Việt Nam và truyền đạt cho những kỹ sư không biết tiếng và quản lý tiến trình phát triển phần mềm. Hiện tại, hầu hết các kỹ sư đều không hiểu tiếng Nhật, nên để nhận được thêm nhiều công việc từ phía đối tác Nhật thì BrigdeSE đóng vai trò không thể thiếu.

Kế hoạch của FPT Software là đào tạo được 10.000 BridgeSE cho đến năm 2018 thay vì con số 700 kỹ sư phần mềm hiện nay.
Một trung tâm phát triển của FPT Software. Ảnh: Nikkei
 "Nếu thực hiện được, chương trình có thể được ví với một cơn mưa tưới mát ngành IT của Nhật vốn đang hạn hán, thiếu người tài phục vụ cho việc tích hợp hệ thống quy mô lớn mã số thuế và an sinh xã hội chung của các cơ quan tài chính", Nikkei cho biết. Về phía FPT Software, công ty có thể nhận được từ phía Nhật Bản công việc dành cho 150.000 kỹ sư nếu đào tạo 10.000 BridgeSE.

Trong số 10.000 người này sẽ có một nửa học tại Việt Nam, nửa còn lại sẽ đến Nhật và tham gia chương trình học khoảng 7 tháng của trường đào tạo ngôn ngữ. Đối tác liên kết đầu tiên của FPT Software là Học viện Ngôn ngữ Meros (Tokyo, Teshima). FPT sẽ gửi dần nhân viên sang học viện, tháng 4 năm sau là 50 người, tháng 7 là 200 người và tháng 11 là 250 người.

"Chúng tôi làm như vậy vì muốn đẩy nhanh tốc độ học tập nhờ môi trường sống và giao tiếp hoàn toàn bằng tiếng Nhật", Chủ tịch FPT Trương Gia Bình Bình nói.  FPT Software là một công ty thành viên thuộc Tập đoàn FPT.

Giám đốc Học viện Ngôn ngữ Meros - bà Junko Kagawa cũng mong muốn học viên “học được cả quy tắc kinh doanh và văn hóa Nhật Bản”. Học viện hướng tới mục tiêu đào tạo các bạn học viên sau khi tốt nghiệp có kiến thức phong phú và trình độ tiếng Nhật đạt mức “N2” của kỳ thi năng lực tiếng Nhật. Còn lại 5.000 người theo học khóa tiếng Nhật ở Việt Nam sẽ tích lũy kinh nghiệm và tu nghiệp thông qua kinh nghiệm thực tế tại các công ty Nhật sau khi trở thành BridgeSE.
Truong-Gia-Binh-7442-1417131925.jpg
Hình ảnh Chủ tịch FPT Trương Gia Bình trên báo Nikkei.

Chủ tịch FPT Trương Gia Bình hướng tới mục tiêu là “tăng cường năng lực của toàn bộ ngành IT tại Việt Nam”. Để làm được như vậy thì không chỉ FPT mà các công ty khác cũng có thể tham gia vào “kế hoạch 10.000 người” này. Theo ông, đây là cơ hội rất lớn để thực hiện mơ ước đối với các bạn trẻ có mong muốn sau khi học tốt tiếng Nhật có thể vào làm việc tại các công ty IT của Nhật Bản.

Toàn bộ chi phí sinh hoạt bao gồm phí tạm trú tương đương 1,7 triệu Yen (14.400 USD) sẽ do người tham gia chương trình tự chi trả. FPT liên kết với ngân hàng tại Việt Nam để cho vay tiền học phí và đóng vai trò là người bảo lãnh. Số tiền 1,7 triệu Yen tương đương lương kỹ sư cầu nối làm việc công ty IT của Việt Nam trong 1-2 năm.

Trong tương lai, nếu các học viên có thể tìm được công việc tại Nhật thì cũng không nhất thiết phải trả lại toàn bộ số tiền, FPT cho biết. Công ty sẽ thiết lập cơ chế công ty chi trả chi phí cho các nhân viên sau khi làm rõ điều kiện nhất định.

Ông Đoàn Xuân Hưng - Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Nhật Bản cho rằng kế hoạch này “nối kết sự phát triển ở cả nước Việt Nam - Nhật Bản”, và thay mặt chính phủ Việt Nam bày tỏ sự ủng hộ đối với kế hoạch này. Với vũ khí là ưu thế cạnh tranh về giá, sẽ đẩy mạnh phát triển ứng dụng trên điện thoại và đưa công nghệ cloud vào áp dụng.
Hiện nay quốc gia lớn nhất thực hiện gia công phần mềm (outsourcing) cho Nhật Bản là Trung Quốc. Hợp tác này trong những năm gần đây đang chững lại một phần do chi phí nhân lực tăng đột ngột. Trong khi đó, điểm hấp dẫn của các doanh nghiệp Việt Nam chính là ở mức giá rất cạnh tranh. 

Mức lương của một kỹ sư ở Nhật vào khoảng 200.000 - 300.000 yen (1.700 - 2.500 USD) mỗi tháng thì ở Việt Nam chỉ bằng 20-40%. Nếu xem xét về mặt quản lý chất lượng sản phẩm, chi phí cũng rẻ hơn khoảng 40 - 60% so với nội địa Nhật, 30 - 40% so với Trung Quốc. 

"Vấn đề chỉ là ở tiếng Nhật. So với quốc gia có nền văn hóa chữ Hán là Trung Quốc thì Việt Nam có vị thế hơi bất lợi, nhưng điểm yếu đó được kỳ vọng khắc phục thông qua chương trình đào tạo 10.000 BrigdeSE", Nikkei nhận xét.
Vnexpress