Showing posts with label tăng trưởng kinh tế. Show all posts
Showing posts with label tăng trưởng kinh tế. Show all posts

Sunday, January 18, 2015

Cảnh báo đầu năm 2015 về vốn con người

Nguy cơ tụt hậu và thế yếu cạnh tranh của nguồn nhân lực khi Việt Nam tham gia các cộng đồng khu vực và thế giới lại một lần nữa được đặt ra tại hội thảo tìm động lực cho tăng tưởng kinh tế năm 2015 vừa diễn ra ngày 16/1 tại Hà Nội.

Coi chừng "AEC vào"

Sát sườn nhất là chuyện Việt Nam sắp tham cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) - điều này vừa mang lại cơ hội nhưng cũng nhãn tiền nhiều thách thức cho "lao động chất lượng cao".

Các lĩnh vực khác
Nông lâm thủy sản: 3,4%, công nghệ khai thác: 0,6%, công nghệ chế biến  -chế tạo: 9,4%, xây dựng 4,7% ngân hàng tài chính: 4,6%.
Theo báo cáo của thạc sĩ Nguyễn Thị Cẩm Vân (Trường ĐH Kinh tế quốc dân), lao động chuyên môn kỹ thuật trình độ cao của Việt Nam chủ yếu tập trung trong các ngành dịch vụ,  nhiều nhất là giáo dục (32,3%); kế đến là khu vực sản xuất hàng hóa và dịch vụ (32,5%). Con số này ở khu vực "công nghiệp chế biến chế tạo" - cốt lõi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa - chưa đến 10%, (trong khi quốc gia phát triển là 70%).

Bà Vân phân tích: Khi tham gia vào cộng đồng kinh tế ASEAN, trên thực tế chỉ cho phép luân chuyển lao động trong 8 ngành:kiểm toán, kiến trúc, kỹ sư, nha sĩ, bác sĩ, điều tra viên và du lịch. So với toàn bộ cơ cấu nền kinh tế, lao động nhóm này chỉ chiếm số lượng rất nhỏ (1%). Cơ hội dành cho lao động Việt Nam càng thu hẹp bởi các yếu tố khắt khe về chuyên môn, ngoại ngữ.
Nhiều ý kiến tại hội thảo khuyến nghị chú trọng đổi mới giáo dục đào tạo, đặc biệt là đào tạo đại học để chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng tốt. Ảnh: Lê Anh Dũng

Trong nghiên cứu về "mức độ sẵn sàng của nguồn nhân lực Việt Nam khi tham gia AEC", thạc sĩ Hoàng Thị Huệ (Trường ĐH Kinh tế quốc dân) điểm lại kết luận của các tổ chức về những điểm yếu của lao động Việt Nam.

Cụ thể, một khảo sát của Ngân hàng Thế giới cho thấy, so với yêu cầu của nhà tuyển dụng tại 7 quốc gia Đông Á, nhân lực Việt thiếu hụt nghiêm trọng thái độ làm việc, thiếu hụt lớn các kỹ năng: tư duy, sáng tạo, công nghệ thông tin, giải quyết vấn đề. Còn theo khảo sát của Manpower (một công ty nhân lực trong nước), thì  lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thiếu hụt lớn nhất về ý thức về chất lượng và đúng giờ, tin cậy;  tiếp theo là khả năng thích nghi với thay đổi, làm việc nhóm, nhận biết và tiếp thu ứng dụng công nghệ mới.


Cẩn thận "FDI đi"

Không chỉ quan ngại khi người giỏi của ASEAN tràn vào, các báo cáo của hội thảo cũng nêu lo lắng nếu doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) rời đi khi  yếu tố "nhân công giá rẻ" của Việt Nam mất dần lợi thế.


GS Trần Thọ Đạt và thạc sĩ Nguyễn Thị Cẩm Vân lưu ý: Theo báo cáo gần đây của tổ chức lao động quốc tế, mặc dù có lợi thế chi phí rẻ nhưng VN đang phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các quốc gia khác trong khu vực cũng có chi phí thấp nhưng triển vọng năng suất lao động sáng sủa hơn.

Trong một khảo sát về "năng suất lao động", các tác giả chỉ ra 2 điểm mất lợi thế cạnh tranh.

Thứ nhất: Từ năm 2000- 2012, tốc độ tăng năng suất lao động của VN bằng tốc độ của Campuchia, cao hơn ASEAN, thấp hơn Lào. Năm 2010, Lào vẫn sau VN trong bảng xếp hạng năng suất nhưng bắt kịp vào 2012 và có khả năng tiến nhanh hơn VN trong tương lai gần.Khi chi phí nhân công ở VN đang tăng nhanh hơn so với năng suất lao động,  nảy sinh lo lắng FDI sẽ chuyển sang Lào, Campuchia.

Thứ hai: Kinh nghiệm ở các quốc gia cho thấy để duy trì năng lực canh tranh thì tốc độ tăng năng suất lao động cũng tương đương tốc độ tăng lương. Nhưng ở VN tốc độ tăng lương đang nhiều hơn tốc độ tăng tăng năng suất (trong giai đoạn 2011 – 2013 , tốc độ tăng lương là 13,665%).
Hai tác giả khuyến nghị tăng năng suất lao động nội bộ ngành là conn đường tăng trưởng năng suất cơ bản trong nền kinh tế hiện nay.

Lao động Việt Nam có giá 7.900 USD

Bảng so sánh mức năng suất lao động (nghìn USD) của Việt Nam với một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới
Tên nước và vùng lãnh thổMức NSLD (nghìn US dollar)
200020102012
Singapore95.3113.7114.4
Nhật Bản60.366.266.9
Hàn Quốc40.053.854.8
Trung Quốc5.614.516.9
Malaysia36.445.046.6
Thái Lan16.921.822.9
Philippines11.313.714.7
Indonesia13.118.120.0
Việt Nam4.77.47.9
Lào4.57.17.9
Campuchia2.74.14.6
Myanmar2.36.16.7
ASEAN12.516.718
Ghi chú: GDP giá cơ bản trên 1 lao động theo sức mua tương đương 2011, tham chiếu năm 2012. Nguồn: APO Productivity Databook 2014, tr 59.
Lao động khu vực công: Chất lượng thực sự có cao?

Hai tác giả Yến Nhi và Thành Trung (Học viên Chính trị) quan sát thấy lao động trong các ngành dịch vụ công chủ yếu là lao động đã được đào tạo; trong số đó, trình độ cao chiếm tỷ lệ lớn (theo bảng dưới đây). 

Hai tác giả đặt đặt câu hỏi: Điều này có đồng nghĩa với chất lượng khu vực này cao?

Mặc dù chưa có nghiên cứu thỏa đáng để trả lời cho câu hỏi, nhưng nhóm tác giả cũng nêu giả định: Nếu đo theo thước đo trình độ (bằng cấp) thì đúng là như vậy. Nhưng mặt khác, chất lượng lao động ngoài trình độ còn được đo theo tiêu chí về biểu hiện năng lực, phẩm chất của người lao động. Nếu xét trên bình diện này thì chất lượng khu vực dịch vụ công có thể chưa được đánh giá tốt.

Cơ cấu lao động trong các đơn vị kinh tế, hành chính, sự nghiệp theo trình độ chuyên môn được đào tạo, ngành kinh tế và vùng kinh tế
Đơn vị tính: %
Khu vực/ ngành kinh tếTổng sốCơ cấu theo trình độ chuyên môn được đào tạo
Chưa đào tạoĐã qua đào tạo nhưng không có chứng chỉSơ cấp nghềTrung cấp, trung cấp nghềCao đẳng, cao đẳng nghềĐại họcTrên đại họcTrình độ khác
(1) Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ100.07.19.33.812.010.342.312.42.8
(2) Hoạt động của Đảng Cộng sản, tổ chức chính trị xã hội; Quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng100.01.30.40.814.61.365.914.11.6
(3) Giáo dục và đào tạo100.00.40.30.44.711.265.916.90.2
(4) Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội100.00.80.60.914.11.722.558.90.5
Nguồn: Tổng cục thống kê - 2012
Hội thảo "Kinh tế Việt Nam 2015: Khơi nguồn động lực tăng trưởng trong bối cảnh mới của hội nhập" do Trường ĐH Kinh tế quốc dân phối hợp với Ban Kinh tế Trung ương và Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tổ chức. Ngoài việc phân tích và chỉ ra những rào cản chính với tăng trưởng bền vững, hội thảo còn đưa ra những dự báo về phát triển kinh tế 2015, đặc biệt là khuyến nghị chính sách khơi thông các động lực tăng trưởng, hướng tới phát triển bền vững.
  • Hạ Anh(lược thuật)/VietNamNet

Monday, December 15, 2014

Muốn hiểu châu Á, hãy đọc cuốn sách này như Bill Gates

Cuốn sách How Asia Works của Studwell là một cái nhìn tuyệt vời vào những yếu tố đã dẫn dắt sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng tại một số nước châu Á. 

Mới đây, tỷ phú Bill Gates có giới thiệu về cuốn sách mà ông khá tâm đắc, lý giải về sự trỗi dậy thần kỳ của một số quốc gia châu Á. Đây là câu hỏi lớn đối với những nhà kinh tế học cũng như những người quan tâm đến nguồn gốc phát triển của các châu lục trên thế giới. Sau đây là bài viết của ông được đăng tải trên LinkedIn:

Cuốn sách How Asia Works (Tạm dịch: Châu Á chuyển mình ra sao) của Studwell là một cái nhìn tuyệt vời vào những yếu tố đã dẫn dắt sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng tại một số nước châu Á. Tôi muốn giới thiệu nó tới bất cứ ai đang làm kinh doanh tại châu Á. Như tôi đã viết trong bài nhận xét vừa đăng tải trên trang blog cá nhân về những điều tôi chia sẻ dưới đây, cuốn sách này cũng khiếm tôi suy nghĩ về  những điều kỳ diệu châu Á có thể áp dụng tại Châu Phi, nơi mà Gates Foundation đang nỗ lực làm rất nhiều công việc.

Tôi đọc How Asia Works bởi nó lý giải, trả lời hai câu hỏi lớn nhất tại những nền kinh tế phát triển: Bằng cách nào những quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, và Trung Quốc đạt được sự bền vững, tăng trưởng cao và trở nhành những câu chuyện thành công kinh điển. Và tại sao có quá ít công ty thực hiện chính sách quản lý như vậy. Những câu trả lời rõ ràng có thể  đem lại lợi ích cho hàng tỷ người đang sống tại những quốc gia nghèo như có những nhân tố cần thiết để trở thành những nền kinh tế phát triển.

Tôi rất vui để thông báo rằng Studwell, một nhà báo kinh tế thông minh, đã đem đến những câu trả lời khá thay vì những dẫn dắt, lập lập khá mơ hồ của những nhà kinh tế học. Tôi tìm thấy trong cuốn sách những điều khá hấp dẫn. Studwell giải thích lịch sử kinh tế một cách ngắn gọn và dễ hiểu. Tôi đã yêu cầu toàn bộ nhóm Nông nghiệp trong quỹ đọc nó bởi những hiểu biết đặc biệt sâu sắc về vai trò quan trọng của nông nghiệp hộ gia đình đối với sự phát triển kinh tế.

Câu trả lời của Studwell đối với câu hỏi hàng nghìn tỷ USD về việc tại sao một số nước châu Á phát triển nhanh chóng và những nước khác (Philippines, Indonesia, Thái Lan) thì không? Studwell cung cấp một công thức ba phần đơn giản:

1. Tạo điều kiện cho hộ nông dân nhỏ phát triển mạnh.

2. Sử dụng số tiền thu được từ thặng dư nông nghiệp để xây dựng một cơ sở sản xuất đóng vai trò là công cụ cho việc bắt đầu sản xuất để xuất khẩu.

3. Nuôi dưỡng cả hai nhân tố (nông nghiệp nhỏ và sản xuất định hướng xuất khẩu) với các tổ chức tài schinhs được kiểm soát chặt  nuôi dưỡng cả các ngành (nông nghiệp nhỏ và sản xuất định hướng xuất khẩu) với các tổ chức tài chính được kiểm soát chặt chẽ của chính phủ.

Dưới đây là công thức được triển khai sâu hơn một chút:

Nông nghiệp: Cuốn sách của Studwell đã thực hiện một công việc tốt hơn so với bất cứ điều thứ khác tôi từng đọc về việc khớp nối vai trò quan trọng của nông nghiệp trong sự phát triển. Ông giải thích rằng một trong những điều mà tất cả các quốc gia nghèo hiện đang khá dồi dào là lao động nông nghiệp-thường chiếm tới ba phần tư dân số đất nước. Thật không may, hầu hết các nước nghèo có chính sách đất đai có lợi cho những chủ đất giàu có, với đông đảo nông dân nghèo đang làm việc cho họ. Studwell lập luận rằng những chính sách này không chỉ tạo ra sự bất bình đẳng rất lớn mà chúng cũng dẫn tới năng suất cây trồng tệ hại.

Ngược lại, ông cho biết, khi bạn cung cấp cho nông dân quyền sở hữu những  suất đất khiêm tốn và cho phép họ hưởng lợi từ thành quả lao động của mình, sản lượng nông nghiệp sẽ cao hơn trên mỗi hecta. Và sản lượng tăng giúp những nước này đang tạo ra thặng dư và tiết kiệm mà họ cần để tăng sức mạnh cho cỗ máy sản xuất của mình.

Sản xuất: Studwell lập luận rằng một khi các nước đang sản xuất nông sản dư thừa ổn định, họ nên bắt đầu chuyển sang giai đoạn sản xuất phát triển. Ông chỉ ra một trường hợp mang tính lịch sử quan trọng là những nước thành công không chỉ đơn giản dựa vào sưc mạnh của bàn tay vô hình; họ bổ sung những nguồn lực thị trường với bàn tay sắt của chính sách định hướng công nghiệp hóa của nhà nước. Các nước này gia nhập vào một sự kết hợp của chế độ bảo hộ (Nuông chiều những ngành công nghiệp non trẻ để đem đến cho họ thời gian có thể cạnh tranh trên toàn cầu) và sau đó những kẻ thu cuộc sẽ bị loại bỏ (cắt đứt những nguồn lực cho các công ty không thành công trên các thị trường xuất khẩu).

Tài chính: Studwell chỉ ra rằng những quốc gia đang phát triển nhanh chóng thường hứa suông về những nguyên tắc thị trường tự do trong khi thực sự giữ những tổ chức tài chính của họ trong vòng kiểm soát chặt chẽ. Nói cách khác, họ ban hành những chính sách để bảo vệ mình chống lại những cú sốc và sự trói buộc của dòng chảy vốn toàn cầu, và họ chắc chắn rằng những tổ chức tài chính phục vụ cho sự phát triển lâu dài của đất nước chứ không phải là lợi ích ngắn hạn của những tổ chức này.

Từ cuốn sách, tôi nhận ra nhiều thông điệp có thể mang về áp dụng cho công việc của quỹ chúng tôi. Tôi sẽ làm nổi bật hai điều.

Trước tiên, tôi đánh giá cao tư duy Studwell về những kinh tế nông nghiệp. Dựa trên số liệu về sản lượng cây trồng và sản lượng nông nghiệp đầu ra nói chung, ông lập luận rằng sự phát triển nông nghiệp hóa nhanh chóng đòi hỏi sự tái phân phối đất đai công bằng hơn giữa những người nông dân. Đến nay, tôi đã không tập trung nhiều vào quyền sở hữu đất đai như việc tôi đang làm để có những hạt giống tốt hơn, phân bón và tập quán canh tác. Cuốn sách này khiến tôi muốn tìm hiểu thêm về bức tranh quyền sở hữu đất đai tại các nước mà quỹ của chúng tôi rót vốn vào.

Thứ hai, Studwell đã kích thích tôi suy nghĩ rất nhiều về việc đưa công thức 3 phần ứng dụng vào châu Phi như việc nó đã thành công tại châu Á. Dĩ nhiên, các mảnh ghép nông nghiệp áp dụng tốt và có nhiều lợi ích kinh tế và sức khỏe. Các câu hỏi lớn đối với tôi là: Các nước châu Phi có thể trở thành trung tâm sản xuất định hướng xuất khẩu thành công hay không? Tôi nhìn thấy tiềm năng này ở các nước như Ethiopia và Djibouti. Họ đã có một kết nối mạnh mẽ với Trung Quốc và những kế hoạch kinh tế dài hạn đầy tham vọng. Thật không may, nhiều quốc gia khác trên lục địa này không có những yếu tố thành công tương tự, đặc biệt là những nước nằm sâu trong với cơ sở hạ tầng rất kém. Giúp nông dân ở các nước phát triển với nhiều thực phẩm và kiếm được nhiều tiền hơn sẽ là một sự trợ giúp lớn đối với chính họ.

How Asia Works không phải là cuốn sách hướng tới những đọc giả thông thường, nhưng nó là thứ đáng đọc cho bất cứ ai muốn tìm hiểu điều gì thực sự xác định liệu một nền kinh tế đang phát triển sẽ thành công. Công thức của Studwell khá mới mẻ và rõ ràng ngay cả khi nó rất khó khăn để thực hiện.
Theo Trí Thức Trẻ/LinkedIn