Showing posts with label Châu á. Show all posts
Showing posts with label Châu á. Show all posts

Wednesday, January 21, 2015

Người châu Á tích lũy trang sức quý và đồ cổ cho tương lai

Người lao động tại châu Á cho rằng tài sản, trang sức quý và đồ cổ là những nguồn tài chính mới cho cuộc sống sau này. Khả năng để dành cho hưu trí của người lao động tiếp tục bị đe dọa bởi ảnh hưởng lâu dài của suy thoái kinh tế và những sự kiện phát sinh trong cuộc sống.
Một báo cáo mới của HSBC cho thấy sự thiếu hụt về nguồn quỹ tiết kiệm hưu trí trong bảy năm. Trong khoảng thời gian trung bình 18 năm về hưu, những người trong độ tuổi lao động trên thế giới cho rằng họ có thể sẽ sử dụng hết số tiền tiết kiệm và các khoản đầu tư (không bao gồm trợ cấp hưu trí) chỉ sau 11 năm.


Hai phần ba (66%) người trong độ tuổi lao động lo ngại họ sẽ không còn đủ tiền để trang trải cuộc sống hàng ngày lúc về hưu và 69% lo sợ họ sẽ cạn nguồn tài chính. Sự lo lắng này sẽ trở thành sự thật khi người lao động bước vào độ tuổi về hưu và nhận ra họ đang đối mặt với sự thiếu hụt lớn trong khoản tiền tiết kiệm.


Khảo sát của HSBC lấy ý kiến của hơn 16.000 người trên thế giới, cho thấy việc sở hữu tài sản thứ hai đang là môt lựa chọn phổ biến để bổ sung thêm vào nguồn quỹ hưu trí. Cụ thể là tại châu Á, tương ứng 71% và 35% người lao động đã sở hữu hoặc có kế hoạch sở hữu tài sản thứ hai tại quê hương họ và ở nước ngoài. Chín trong mười người lao động tại Indonesia (90%) và tại Ấn Độ (87%) có kế hoạch hỗ trợ nguồn quỹ hưu trí của họ bằng việc sở hữu tài sản thứ hai trong nước.


Hơn một nửa những người đang trong độ tuổi lao động vẫn tin tưởng vào các chương trình hưu trí cá nhân (62%) và các chương trình hưu trí của bên sử dụng lao động (57%) trong việc tạo ra nguồn thu nhập khi về hưu. Nhưng vẫn tồn tại mối lo ngại cho rằng nguồn quỹ này có thể không đủ mang lại một cuộc sống về hưu an nhàn, điều đó thôi thúc nhiều người tìm kiếm các nguồn hỗ trợ khác.

Tuy nhiên, theo khảo sát, những người trước tuổi về hưu đang ứng phó với tình huống này, họ hoạch định các nguồn tài chính bổ sung cho quỹ hưu trí của họ bằng các phương pháp tiết kiệm mới.


Điều thú vị là các nguồn quỹ bổ sung không theo truyền thống đang trở nên được ưa chuộng; 52% người lao động trên thế giới và 62% người lao động tại châu Á có kế hoạch trông cậy vào lợi nhuận từ vàng, trang sức quý, hoặc kim cương để hỗ trợ cho cuộc sống về hưu của họ. Tỷ lệ người lựa chọn trang sức quý, kim cương và vàng cao nhất là 92% tại Indonesia, tiếp theo là 86% tại Ấn Độ và 76% tại Malaysia.


Lần lượt gần một phần ba (28%) và một phần tư (25%) người lao động tại châu Á đã sở hữu hoặc có kế hoạch sở hữu đồ cổ và tranh vẽ để chuẩn bị cho quỹ hưu trí của họ so với tỷ lệ trung bình toàn cầu lần lượt là 24% và 22%.


Nhận định về kết quả khảo sát, Vineet Vohra, Giám đốc Toàn cầu Khối Phân tích Tài Sản, Ngân hàng bán lẻ và Quản lý tài sản, HSBC cho biết: “Khảo sát cho thấy nhiều người không chỉ đang vun đắp các quỹ hưu trí của họ thông qua các sản phẩm tài chính truyền thống mà còn bằng các tài sản hữu hình, và điều này đặc biệt đúng với người châu Á. Việc tích lũy tài sản đa dạng để tạo thu nhập khi về hưu là cần thiết, nhưng điều quan trọng là chúng ta cần đảm bảo một sự kết hợp hợp lý của thu nhập từ đầu tư và thu nhập từ lương, dựa trên mức độ chấp nhận rủi ro của từng người. Người lao động có khuynh hướng thích giữ tiền mặt, nhưng khả năng mua hàng hóa của tiền mặt lại bị lạm phát làm xói mòn trong dài hạn. Đa dạng hóa là điều cần thiết nhằm quản lý các rủi ro xuất phát từ lạm phát hoặc thị trường bất ổn.”


“Để tối thiểu hóa ảnh hưởng từ những sự kiện không lường trước như thất nghiệp, đối với quỹ hưu trí, những người đang trong độ tuổi đi làm có thể cân nhắc một vài kế hoạch bảo vệ hoặc các giải pháp đầu tư khác tùy theo nhu cầu. Thông qua việc lên kế hoạch sớm và đầu tư hợp lý, tuổi hưu sẽ không còn là một thách thức mà thay vào đó sẽ trở thành thời điểm mọi người hưởng thụ cuộc sống với sự độc lập về tài chính”.


Người lao động ở châu Á có kế hoạch để dành trung bình 25% trên tổng thu nhập cả năm cho hưu trí, cao hơn ở Anh (11%), Mỹ (14%) và các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (11%), theo khảo sát. Con số này đạt mức cao nhất 31% ở Hồng Kông, sau đó là Đài Loan 30% và Singapore 29%.

Tuy nhiên, tiết kiệm đủ cho một cuộc sống dễ chịu sau này là điều khó khăn, theo kết quả của báo cáo. Khả năng để dành cho hưu trí của người lao động tiếp tục bị đe dọa bởi ảnh hưởng lâu dài của suy thoái kinh tế và những sự kiện phát sinh trong cuộc sống.


Hơn tám trên 10 (83%) người lao động ở châu Á cho rằng suy thoái kinh tế và những sự kiện khác trong cuộc sống, như mua nhà và đầu tư giáo dục cho con cái, có ảnh hưởng lớn lên khả năng tiết kiệm cho hưu trí. Hơn một phần ba (37%) những người trước độ tuổi về hưu ở châu Á ngừng hoặc giảm việc để dành cho hưu trí trong suốt thời gian khủng hoảng. Khủng hoảng kinh tế đã tác động mạnh lên việc tiết kiệm cho tuổi hưu và tác động này sẽ còn kéo dài trong nhiều thập kỷ tới.


Vineet Vohra nhận định: “Khảo sát này cho thấy cho dù với sự cố gắng cao nhất, người lao động châu Á tiếp tục gặp khó khăn trong việc tiếp tục để dành cho tuổi hưu trí mặc dù nền kinh tế toàn cầu đang dần dần hồi phục. Như một dư vị khó chịu sót lại, nền kinh tế đi xuống gần đây đã khiến cho người lao động ưu tiên những nghĩa vụ tài chính khác như trả nợ vay, chi phí giáo dục và những trang trải cuộc sống hàng ngày. Không cần thiết phải như vậy. Với việc lập kế hoạch tài chính sớm và cẩn trọng cùng với tính kỷ luật khi thực hiện việc để dành và đầu tư thường xuyên, người lao động có thể đáp ứng được nhiều nhu cầu bao gồm cả việc tiết kiệm cho tuổi hưu trí.”


Khảo sát Tương lai hưu trí là một nghiên cứu độc lập hàng đầu thế giới về triển vọng nghỉ hưu trên toàn cầu của HSBC. Khảo sát này cung cấp những hiểu biết chuyên sâu về những vấn đề quan trọng liên quan đến dân số già và tuổi thọ trung bình ngày càng tăng trên thế giới. Báo cáo toàn cầu, Một kế hoạch cân bằng, là báo cáo lần thứ 10 trong bộ khảo sát, trình bày quan điểm của hơn 16.000 người tại 15 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn cầu (Úc, Brazil, Canada, Pháp, Hongkong, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Mexico, Singapore, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ, Các tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất, Mỹ). Kết quả khảo sát dựa trên cuộc thăm dò trực tuyến do Ipsos MORI thực hiện vào tháng Tám và tháng Chín năm 2014. Kể từ khi Khảo sát Triển vọng hưu trú được bắt đầu vào năm 2005, hơn 141.000 người trên thế giới đã tham gia khảo sát.


HSBC Holding plc, công ty mẹ của Tập đoàn HSBC, có trụ sở đặt tại Luân Đôn. Tập đoàn HSBC phục vụ khách hàng trên toàn cầu với hơn 6.200 văn phòng tại 74 quốc gia và vùng lãnh thổ tại châu Âu, châu Á, Bắc Mỹ và Mỹ Latinh, và Trung Đông và Bắc Phi. Với tài sản trị giá 2.729 tỉ đô la Mỹ tính tới 30 tháng 9 năm 2014, Tập đoàn HSBC là một trong những tổ chức dịch vụ tài chính và ngân hàng lớn nhất thế giới.
Theo Infonet

Wednesday, December 17, 2014

ADB: Dầu giảm giá là cơ hội vàng cho châu Á

Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) nhận định triển vọng tăng trưởng của các nước đang phát triển trong khu vực sẽ vẫn ổn định và giá dầu giảm sẽ có lợi cho nhiều quốc gia.
Giá dầu giảm sẽ là cơ hội vàng cho nhiều nước châu Á. Ảnh: Bloomberg

Trong báo cáo Cập nhật Triển vọng Tăng trưởng châu Á 2014 mới công bố, ADB dự đoán tăng trưởng toàn khu vực năm nay là 6,1%, giảm so với dự báo 6,2% hồi tháng 9. Năm tới, tốc độ này là 6,2%, giảm so với 6,4% trước đó. Dự báo cho Trung Á, Đông Á và Đông Nam Á đều được điều chỉnh giảm. Nam Á được giữ nguyên và khu vực Thái Bình Dương được nâng lên.

"Dù tăng trưởng trong 3 quý đầu năm thấp hơn dự kiến, giá dầu giảm cũng có nghĩa nhiều nền kinh tế phải nhập khẩu dầu sẽ tăng trưởng tốt hơn trong năm sau", Shang-Jin Wei - kinh tế trưởng tại ADB cho biết.

Riêng với Việt Nam, ADB cho biết nền kinh tế đã tăng trưởng 5,6% trong 3 quý đầu năm. Tiêu dùng tư nhân tăng 5,1%, cho thấy tình hình kinh tế được cải thiện và niềm tin tiêu dùng tăng lên. Đầu tư nước ngoài tăng 14% so với cùng kỳ năm ngoái. Tăng trưởng xuất khẩu cũng đang vượt nhập khẩu. Các động thái giảm lãi suất gần đây được dự đoán sẽ giúp nới lỏng môi trường tín dụng và cải thiện đầu tư nội địa.

Vì vậy, tổ chức này cho rằng kinh tế Việt Nam năm nay sẽ tăng trưởng 5,6%, nhích lên so với 5,5% dự báo trước đó. Số liệu này năm tới cũng được nâng từ 5,7% lên 5,8%.

Tăng trưởng tại nhiều nền kinh tế lớn tại Đông Nam Á, như Indonesia, Philippines, Singapore và Thái Lan, đều bị điều chỉnh giảm. GDP khu vực này được dự đoán tăng 4,4% năm nay và 5,1% năm tới.

Sự suy giảm tại Nga cũng đang gây sức ép lên Kazakhstan và một số nền kinh tế Trung Á khác. Kiều hối giảm và nhu cầu bên ngoài suy yếu cũng kìm hãm tăng trưởng tại Armenia, Cộng hòa Kyrgyz và Uzbekistan. Vì vậy, tăng trưởng của Trung Á được điều chỉnh xuống 5,1% năm nay và 5,4% năm tới.
Tuy nhiên, với giá dầu mỏ và hàng hóa giảm, phần lớn các nước đang phát triển châu Á đều được hạ dự báo lạm phát. Mức trung bình của khu vực này còn 3,2% năm nay và 3,5% năm tới.

"Giá dầu giảm trên toàn cầu là cơ hội vàng cho các quốc gia nhập khẩu như Indonesia hay Ấn Độ, để cải tổ chương trình trợ giá nhiên liệu đắt đỏ đang áp dụng. Mặt khác, các nước xuất khẩu dầu cũng có thể tận dụng cơ hội này để phát triển lĩnh vực sản xuất, khi giá hàng hóa thấp sẽ khiến tỷ giá thuận lợi hơn với họ", ông Wei nhận xét.
Vnexpress

Monday, December 15, 2014

Muốn hiểu châu Á, hãy đọc cuốn sách này như Bill Gates

Cuốn sách How Asia Works của Studwell là một cái nhìn tuyệt vời vào những yếu tố đã dẫn dắt sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng tại một số nước châu Á. 

Mới đây, tỷ phú Bill Gates có giới thiệu về cuốn sách mà ông khá tâm đắc, lý giải về sự trỗi dậy thần kỳ của một số quốc gia châu Á. Đây là câu hỏi lớn đối với những nhà kinh tế học cũng như những người quan tâm đến nguồn gốc phát triển của các châu lục trên thế giới. Sau đây là bài viết của ông được đăng tải trên LinkedIn:

Cuốn sách How Asia Works (Tạm dịch: Châu Á chuyển mình ra sao) của Studwell là một cái nhìn tuyệt vời vào những yếu tố đã dẫn dắt sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng tại một số nước châu Á. Tôi muốn giới thiệu nó tới bất cứ ai đang làm kinh doanh tại châu Á. Như tôi đã viết trong bài nhận xét vừa đăng tải trên trang blog cá nhân về những điều tôi chia sẻ dưới đây, cuốn sách này cũng khiếm tôi suy nghĩ về  những điều kỳ diệu châu Á có thể áp dụng tại Châu Phi, nơi mà Gates Foundation đang nỗ lực làm rất nhiều công việc.

Tôi đọc How Asia Works bởi nó lý giải, trả lời hai câu hỏi lớn nhất tại những nền kinh tế phát triển: Bằng cách nào những quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, và Trung Quốc đạt được sự bền vững, tăng trưởng cao và trở nhành những câu chuyện thành công kinh điển. Và tại sao có quá ít công ty thực hiện chính sách quản lý như vậy. Những câu trả lời rõ ràng có thể  đem lại lợi ích cho hàng tỷ người đang sống tại những quốc gia nghèo như có những nhân tố cần thiết để trở thành những nền kinh tế phát triển.

Tôi rất vui để thông báo rằng Studwell, một nhà báo kinh tế thông minh, đã đem đến những câu trả lời khá thay vì những dẫn dắt, lập lập khá mơ hồ của những nhà kinh tế học. Tôi tìm thấy trong cuốn sách những điều khá hấp dẫn. Studwell giải thích lịch sử kinh tế một cách ngắn gọn và dễ hiểu. Tôi đã yêu cầu toàn bộ nhóm Nông nghiệp trong quỹ đọc nó bởi những hiểu biết đặc biệt sâu sắc về vai trò quan trọng của nông nghiệp hộ gia đình đối với sự phát triển kinh tế.

Câu trả lời của Studwell đối với câu hỏi hàng nghìn tỷ USD về việc tại sao một số nước châu Á phát triển nhanh chóng và những nước khác (Philippines, Indonesia, Thái Lan) thì không? Studwell cung cấp một công thức ba phần đơn giản:

1. Tạo điều kiện cho hộ nông dân nhỏ phát triển mạnh.

2. Sử dụng số tiền thu được từ thặng dư nông nghiệp để xây dựng một cơ sở sản xuất đóng vai trò là công cụ cho việc bắt đầu sản xuất để xuất khẩu.

3. Nuôi dưỡng cả hai nhân tố (nông nghiệp nhỏ và sản xuất định hướng xuất khẩu) với các tổ chức tài schinhs được kiểm soát chặt  nuôi dưỡng cả các ngành (nông nghiệp nhỏ và sản xuất định hướng xuất khẩu) với các tổ chức tài chính được kiểm soát chặt chẽ của chính phủ.

Dưới đây là công thức được triển khai sâu hơn một chút:

Nông nghiệp: Cuốn sách của Studwell đã thực hiện một công việc tốt hơn so với bất cứ điều thứ khác tôi từng đọc về việc khớp nối vai trò quan trọng của nông nghiệp trong sự phát triển. Ông giải thích rằng một trong những điều mà tất cả các quốc gia nghèo hiện đang khá dồi dào là lao động nông nghiệp-thường chiếm tới ba phần tư dân số đất nước. Thật không may, hầu hết các nước nghèo có chính sách đất đai có lợi cho những chủ đất giàu có, với đông đảo nông dân nghèo đang làm việc cho họ. Studwell lập luận rằng những chính sách này không chỉ tạo ra sự bất bình đẳng rất lớn mà chúng cũng dẫn tới năng suất cây trồng tệ hại.

Ngược lại, ông cho biết, khi bạn cung cấp cho nông dân quyền sở hữu những  suất đất khiêm tốn và cho phép họ hưởng lợi từ thành quả lao động của mình, sản lượng nông nghiệp sẽ cao hơn trên mỗi hecta. Và sản lượng tăng giúp những nước này đang tạo ra thặng dư và tiết kiệm mà họ cần để tăng sức mạnh cho cỗ máy sản xuất của mình.

Sản xuất: Studwell lập luận rằng một khi các nước đang sản xuất nông sản dư thừa ổn định, họ nên bắt đầu chuyển sang giai đoạn sản xuất phát triển. Ông chỉ ra một trường hợp mang tính lịch sử quan trọng là những nước thành công không chỉ đơn giản dựa vào sưc mạnh của bàn tay vô hình; họ bổ sung những nguồn lực thị trường với bàn tay sắt của chính sách định hướng công nghiệp hóa của nhà nước. Các nước này gia nhập vào một sự kết hợp của chế độ bảo hộ (Nuông chiều những ngành công nghiệp non trẻ để đem đến cho họ thời gian có thể cạnh tranh trên toàn cầu) và sau đó những kẻ thu cuộc sẽ bị loại bỏ (cắt đứt những nguồn lực cho các công ty không thành công trên các thị trường xuất khẩu).

Tài chính: Studwell chỉ ra rằng những quốc gia đang phát triển nhanh chóng thường hứa suông về những nguyên tắc thị trường tự do trong khi thực sự giữ những tổ chức tài chính của họ trong vòng kiểm soát chặt chẽ. Nói cách khác, họ ban hành những chính sách để bảo vệ mình chống lại những cú sốc và sự trói buộc của dòng chảy vốn toàn cầu, và họ chắc chắn rằng những tổ chức tài chính phục vụ cho sự phát triển lâu dài của đất nước chứ không phải là lợi ích ngắn hạn của những tổ chức này.

Từ cuốn sách, tôi nhận ra nhiều thông điệp có thể mang về áp dụng cho công việc của quỹ chúng tôi. Tôi sẽ làm nổi bật hai điều.

Trước tiên, tôi đánh giá cao tư duy Studwell về những kinh tế nông nghiệp. Dựa trên số liệu về sản lượng cây trồng và sản lượng nông nghiệp đầu ra nói chung, ông lập luận rằng sự phát triển nông nghiệp hóa nhanh chóng đòi hỏi sự tái phân phối đất đai công bằng hơn giữa những người nông dân. Đến nay, tôi đã không tập trung nhiều vào quyền sở hữu đất đai như việc tôi đang làm để có những hạt giống tốt hơn, phân bón và tập quán canh tác. Cuốn sách này khiến tôi muốn tìm hiểu thêm về bức tranh quyền sở hữu đất đai tại các nước mà quỹ của chúng tôi rót vốn vào.

Thứ hai, Studwell đã kích thích tôi suy nghĩ rất nhiều về việc đưa công thức 3 phần ứng dụng vào châu Phi như việc nó đã thành công tại châu Á. Dĩ nhiên, các mảnh ghép nông nghiệp áp dụng tốt và có nhiều lợi ích kinh tế và sức khỏe. Các câu hỏi lớn đối với tôi là: Các nước châu Phi có thể trở thành trung tâm sản xuất định hướng xuất khẩu thành công hay không? Tôi nhìn thấy tiềm năng này ở các nước như Ethiopia và Djibouti. Họ đã có một kết nối mạnh mẽ với Trung Quốc và những kế hoạch kinh tế dài hạn đầy tham vọng. Thật không may, nhiều quốc gia khác trên lục địa này không có những yếu tố thành công tương tự, đặc biệt là những nước nằm sâu trong với cơ sở hạ tầng rất kém. Giúp nông dân ở các nước phát triển với nhiều thực phẩm và kiếm được nhiều tiền hơn sẽ là một sự trợ giúp lớn đối với chính họ.

How Asia Works không phải là cuốn sách hướng tới những đọc giả thông thường, nhưng nó là thứ đáng đọc cho bất cứ ai muốn tìm hiểu điều gì thực sự xác định liệu một nền kinh tế đang phát triển sẽ thành công. Công thức của Studwell khá mới mẻ và rõ ràng ngay cả khi nó rất khó khăn để thực hiện.
Theo Trí Thức Trẻ/LinkedIn

Sunday, November 30, 2014

Những thương hiệu nào dân châu Á khao khát nhất

Các thương hiệu cao cấp châu Âu đang dẫn đầu trong danh sách mua sắm của khách hàng châu Á. Hãy xem chúng là "ai"?

Khảo sát Nikkei Brand Survey 2014 tiến hành trên 1.800 người tiêu dùng ở Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan, Philippines và Việt Nam về 148 thương hiệu.
Kết quả BMW trở thành thương hiệu ôtô đáng khao khát nhất tại châu Á, cùng với 5 đại diện khác của châu Âu góp mặt trong Top 10 của hạng mục xe hơi.

Về mỹ phẩm, L'Oreal, Chanel, Dior, Lancome (Pháp) chiếm 4 vị trí đứng đầu. Trong khi đó, xếp đầu hạng mục thời trang cũng là một thương hiệu đển từ Tây Ban Nha - Zara.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ những năm gần đây đã tạo điều kiện cho nhiều mặt hàng cao cấp đến gần hơn với nhóm khách hàng trung lưu đang lan rộng khắp châu Á.

Nhiều thương hiệu có tiếng của châu Âu đã nhìn ra sức mua cải thiện trong thị trường châu Á và tìm cách biến khu vực này trở thành động lực tăng trưởng thay thế, thông qua chiến lược tiếp thị đặc thù.

Những "người chơi" nội địa cũng sẵn sàng bước vào cuộc chiến tay đôi bảo vệ "sân nhà" và giành lấy trái tim, cũng như ví tiền của người tiêu dùng.

Chẳng hạn, Samsung (Hàn Quốc) đứng đầu hạng mục thiết bị gia dụng, Sony (Nhật) thống trị mặt hàng TV và Canon (Nhật) được ưa chuộng nhất trong mảng máy ảnh kỹ thuật số. Ngay cả thời trang, thương hiệu Giordano (Hongkong) cũng xếp thứ 2 chỉ sau Zara.

Đối tượng khảo sát của Nikkei Brand Survey 2014 từ 16-59 tuổi ở mỗi quốc gia Trung Quốc (Bắc Kinh - Thượng Hải), Ấn Độ (Delhi, Mumbai), Indonesia (Jakarta), Thái Lan (Bangkok), Việt Nam (Hà Nội) và Philippines (Manila). Họ sẽ đánh giá thương hiệu dựa trên nhận diện, hình ảnh và ý định mua.

Khảo sát bao gồm các hạng mục: xe hơi (33 thương hiệu), điện thoại di động (20 thương hiệu), TV (12 thương hiệu), máy ảnh kỹ thuật số (10 thương hiệu), thiết bị Internet (26 thương hiệu), mỹ phẩm (27 thương hiệu), thời trang (9 thương hiệu), tủ lạnh/máy giặt (11 thương hiệu). 

Theo Tuổi Trẻ/Nikkei Asian Review