Showing posts with label quản trị doanh nghiệp. Show all posts
Showing posts with label quản trị doanh nghiệp. Show all posts

Sunday, April 26, 2015

Richard Branson: Nên cho nhân viên làm việc tại nhà

Tỷ phú Anh cho rằng trừ các nghề kỹ thuật đặc thù như lái máy bay, hầu hết việc văn phòng đều có thể làm từ nhà.

"Các công ty cấm việc này, như Yahoo, đang gây sức ép lên các gia đình và hạn chế cơ hội cho phụ nữ", Branson cho biết. Ông là nhà sáng lập Tập đoàn Virgin, được coi là một trong những doanh nhân thành công nhất nước Anh và là biểu tượng của khởi nghiệp.

"Phần lớn các công việc văn phòng trên thế giới đều có thể linh hoạt. Với những người có con nhỏ được làm việc tại nhà, tôi cho rằng việc đó là tốt, với chính nhân viên, gia đình họ và cả công ty nữa", Branson cho biết trong cuộc phỏng vấn với Bloomberg TV hôm qua. .
Richard Branson luôn có những ý tưởng khá táo bạo. Ảnh: Huffington Post

  Khi được hỏi liệu ông có cho rằng quyết định hạn chế làm việc từ xa của CEO Yahoo - Marissa Mayer 2 năm trước là đi ngược với thời đại hay không, Branson đã đồng ý và gọi đây là một "sai lầm" có thể chẳng làm lợi gì cho năng suất công ty.

Mayer đã bị chỉ trích mạnh mẽ sau khi chấm dứt chính sách làm việc tại nhà của Yahoo vào tháng 2/2013. Cô cho biết mình cảm thấy các nhân viên "cần phải làm việc cạnh nhau". Những người chỉ trích, trong đó có Branson, cho rằng sự linh hoạt rõ ràng có thể cải thiện năng suất lao động. Và chính nó đã tạo ra khác biệt giữa một người có thể thăng tiến trong công việc và một người phải ra đi. Cả Branson và COO Facebook - Sheryl Sandberg đều nhấn mạnh mình ủng hộ việc này.

Sandberg cho biết năng suất cao và có vẻ năng suất cao là rất khác nhau. "Dĩ nhiên chúng tôi quan tâm đến những người cố gắng. Nhưng khi đó, anh đang xây dựng văn hóa nhìn vào nỗ lực, thay vì kết quả", cô nói.

"Tôi cho rằng phần lớn công việc văn phòng và hoạt động giao tiếp đều khá tốn thì giờ và mang tính hình thức. Cắt giảm những điều này sẽ tiết kiệm rất nhiều thời gian và giúp nhiều người rảnh tay lo chuyện gia đình", cô cho biết.

Trong khi rất nhiều công ty cho phép nhân viên linh hoạt thời gian tại một mức độ nào đó, làm việc tại nhà vẫn là chiến lược đang gây tranh cãi trên toàn cầu. Dù vậy, không nhiều người lên tiếng phản đối. Khi được hỏi về những việc thừa thãi tại văn phòng, Sandberg chỉ cho biết: "Các cuộc họp mất quá nhiều thời gian".
Theo Bloomberg/Vnexpress

Sunday, April 19, 2015

Giám đốc tự cắt lương 90% để tăng thu nhập cho nhân viên

Để nâng lương nhân viên lên tối thiểu 70.000 USD, CEO một hãng công nghệ đã tự hạ mức lương "triệu đô" của mình.

Dan Price tại công ty Gravity Paymenst. Ảnh: Geek Wire
Câu chuyện bất bình đẳng thu nhập đã khiến Dan Price - CEO Gravity Payments tại Seattle suy nghĩ suốt nhiều tháng qua. Tuy nhiên, khi đi leo núi với một người bạn và nghe cô than thở về khó khăn khi tiền thuê nhà tăng, Price mới nhận thấy mình cần làm điều gì đó cho các nhân viên.

Sau khi về, anh đã quyết định nâng lương cho toàn bộ 120 người trong công ty, lên tối thiểu 70.000 USD. Lương trung bình hiện tại của họ là 48.000 USD. Trong 70 người thuộc diện nâng lương, khoảng 30 người sẽ được tăng gấp đôi.


Phần lớn số tiền này đến từ khoản lương bị giảm của Price - từ một triệu USD xuống 70.000 USD một năm. Phần còn lại sẽ được lấy từ 2,2 triệu USD lợi nhuận công ty dự kiến đạt được năm nay.
"Bất bình đẳng thu nhập ngày nay lớn hơn nhiều thời Đại suy thoái. Tôi đã nghĩ về việc này và cho rằng: 'Đã đến lúc rồi. Mình không thể chịu được nếu trì hoãn thêm ngày nào nữa'", Price cho biết.

Việc giảm lương sẽ không ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của Price. Anh đã tiết kiệm được kha khá sau khi thành lập Gravity năm 2004. Anh không có kế hoạch thay chiếc Audi đã 12 tuổi và mức lương mới cũng vẫn cho phép tụ tập bạn bè tại bar mỗi tháng một lần.

"Dĩ nhiên có nhiều thứ sẽ phải hy sinh. Nhưng khi lợi nhuận công ty quay lại 2,2 triệu USD, lương của tôi cũng sẽ nhích lên thôi. Đó cũng là động lực tốt", anh nói.

Theo một báo cáo của Trường Kinh doanh Harvard năm ngoái, lương trung bình của CEO Mỹ thường gấp hơn 350 lần nhân viên. Seattle cũng đang trở thành tâm điểm chú ý khi chính quyền thành phố quyết định nâng lương tối thiểu lên 15 USD một giờ vào tháng 6 tới.

Price không coi hành động của mình là làm từ thiện cho nhân viên. Thay vào đó, đây thực chất là một khoản đầu tư. Trên lý thuyết, các nhân viên được thúc đẩy bằng lương cao sẽ làm việc tốt hơn và quan tâm đến khách hàng hơn. "Đây là giải pháp cho vấn đề xã hội. Tôi thực sự cho rằng nó sẽ có kết quả tốt thôi", anh nói.

Hà Thu(theo Huffington Post)/Vnexpress

Tuesday, March 31, 2015

Những sai lầm khởi nghiệp dễ dẫn tới thất bại

Khởi đầu chậm chạp, vốn huy động quá nhiều hay mâu thuẫn với người đồng sáng lập có thể khiến doanh nghiệp của bạn nhanh chóng tàn lụi.

1. Địa điểm không phù hợp
Entrepreneur-Office-Space-5750-142772743
Địa điểm là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến việc kinh doanh. Ảnh: Under 30 CEO

Bạn có thể thay đổi tất cả mọi thứ liên quan đến ngôi nhà, từ nội thất đến trang trí. Nhưng vị trí của nó. Tương tự, nếu khởi nghiệp ở một nơi không phù hợp, bạn sẽ không thể thay đổi bản chất của địa điểm đó. Ví dụ, nếu kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ, lựa chọn số một chính là Thung lũng Silicon.

2. Thị trường ngách quá nhỏ

Lựa chọn một thị trường quá mơ hồ có thể đẩy người khởi nghiệp vào những tình huống khó khăn. Nếu đây là cách bạn chọn để né tránh sự cạnh tranh, nó chẳng khôn ngoan chút nào

3. Quá cố chấp

Tính cách bướng bỉnh, hoặc khả năng thích nghi kém sẽ dẫn tới thất bại do nhà khởi nghiệp không biết cách lắng nghe xem khách hàng của họ muốn gì.

4. Khởi đầu chậm chạp

Trước khi bắt đầu, bạn lúc nào cũng băn khoăn liệu doanh nghiệp của mình có sống được không. Hãy nhớ, trì hoãn càng lâu thì thời gian bạn nhận được câu trả lời cũng càng xa tít tắp.  Nếu bạn sợ phải biết câu trả lời, hãy tự hỏi bản thân mình xem tại sao.

5. Không có đối tượng khách hàng cụ thể nào

Chắc chắn ở đâu đó có người sẽ quan tâm đến sản phẩm của bạn, bạn chỉ không biết đó là ai mà thôi. Nếu băn khoăn có vẻ những người đó không tồn tại? Hãy ra ngoài và tự mình kiểm chứng.

6. Huy động quá ít tiền

Bạn sẽ thu về những gì tương xứng với phần đã bỏ ra. Với số tiền quá ít, bạn sẽ không thể giúp sản phẩm của mình phát huy đầy đủ tiềm năng.

7. Chi tiêu quá nhiều

Chi tiêu quá nhiều trước khi bạn đủ khả năng huy động đợt tới thêm sẽ khiến bạn cạn kiệt tiền mặt và báo trước một cái kết chẳng hề hay ho cho công ty.

8. Huy động quá nhiều tiền

Việc này sẽ khiến bạn có cảm giác đó là thành công rất lớn, thậm chí trước cả khi tung ra sản phẩm. Người mà bạn cần tập trung và gây ấn tượng nhất chính là khách hàng, chứ không phải nhà đầu tư.

9. Quản lý đầu tư kém

Nếu phải lựa chọn giữa việc làm cho nhà đầu tư hay khách hàng hài lòng, câu trả lời luôn là khách hàng. Nếu người dùng hài lòng với sản phẩm, đương nhiên các nhà đầu tư cũng sẽ hái ra tiền.

10. Không thiết lập mạng lưới quan hệ

Bạn sẽ không thể giải quyết mọi việc bằng luật pháp và quy định được đâu. Kinh doanh được xây dựng dựa trên các mối quan hệ. Hãy ra ngoài và gặp gỡ mọi người thường xuyên.

11. Mâu thuẫn giữa những người sáng lập

Việc này diễn ra khá thường xuyên và nguy hiểm. Nếu những người cùng làm với bạn thuộc tuýp tham vọng, các bạn sẽ rất dễ xảy ra bất đồng.
Ngọc Anh (theo Funders and Founders)
Vnexpress

Monday, March 30, 2015

6 cách hiệu quả khi làm ăn với người Nhật

Người Nhật đánh giá rất cao thị trường Việt Nam và luôn sẵn sàng hợp tác khi có cơ hội tốt. Nhưng đa phần người Việt làm ăn với người Nhật lại thất bại. Nếu muốn có kết quả tốt khi làm ăn với người Nhật cần chú ý các điểm sau đây:
1. Trả lời tất cả email, tin nhắn

Đối với người Nhật, dù là doanh nghiệp lớn hay nhỏ nhưng khi một khi đã gửi email cho họ thì nhất định họ sẽ trả lời lại, dù email đó chỉ là một việc nhỏ. 

Trong trường hợp email đó không thể trả lời được hay không thể đáp ứng được yêu cầu của người gửi, họ sẽ tìm cách gửi lời xác nhận là đã nhận và đọc nó.

Ở Việt Nam thì ngược lại. Chỉ có những email quan trọng mới được trả lời, thậm chí còn quên trả lời. 

Cho nên nếu bạn muốn tương tác tốt với người Nhật, doanh nghiệp Nhật thì trước hết cần tập dần thói quen trả lời email hay tin nhắn, dù nội dung trong đó đề cập đến một việc nhỏ hay không quan trọng gì. 

Trong trường hợp không trả lời được thì cần phải xác nhận là đã nhận được email.

2. Chào, hỏi thành thật

Không những thế, người Nhật rất quan trọng việc “dạ", "thưa” hay nói cách khác là việc chào hỏi người đối diện, trong bất cứ trường hợp nào. 

Vì vậy, muốn hợp tác làm ăn với người Nhật, bạn cần tập cho mình thói quen biết chào, hỏi với thái độ thật chân thành. Họ sẽ đánh giá rất cao bạn.

3. Luôn giữ lời hứa

Đặc điểm nổi bật khi làm việc với các nhà kinh doanh người Nhật là phải giữ chữ tín, giữ lời hứa dù là những việc nhỏ nhất.

Người Nhật rất coi trọng ấn tượng trong buổi gặp mặt hay đợt giao dịch đầu tiên. Điều này có nghĩa khi bạn không thực hiện được lời hứa với họ, đầu tiên phải xin lỗi, cho dù vì bất kỳ lý do gì. Việc giải thích lý do phải được thực hiện hết sức khéo léo sau đó và vào những thời điểm phù hợp. 

 
Nếu muốn quảng bá một sản phẩm tới người tiêu dùng tại đây thì doanh nghiệp Việt nên quảng cáo bằng video bởi người Nhật rất thích câu “trăm nghe không bằng một thấy”. 

Người Nhật thường đánh giá một con người hay một doanh nghiệp qua lời hứa của họ. 

Trong 1 cuộc hẹn nếu không giữ lời hứa được thì cần phải liên lạc trước cho đối phương biết. Khi làm việc với khách hàng người Nhật, cần chủ động lựa chọn phương tiện hợp lý và thời gian để tránh bị muộn vì lý do tắc đường.

Trong khi đó, người Việt thường đến trễ so với giờ hẹn và không báo trước. Hẹn đúng giờ sẽ không thấy mặt mà 10 phút sau thông báo là tôi đang tới. Sau 20 phút cũng nói là tôi gần tới. Sau 30 phút lại nói là tôi có khả năng không đến được. Và hơn 1 tiếng sau là thông báo tôi không thể được. 

Nếu không thể đến được cuộc hẹn, bạn cần phải báo trước 20 phút, thậm chí 30 phút để đối tác Nhật được biết.

4. Thời gian làm việc là để làm việc

Trong thời gian làm việc, người Nhật thường không liên lạc với gia đình, bạn bè mà chỉ tập trung cho công việc. Nếu có nói chuyện thì câu chuyện đó cũng chỉ xoay quanh về... vấn đề công việc.

Vì thế, nếu muốn hợp tác thành công thì người Việt cần tập thói quen làm việc thật nghiêm túc. Trong thời gian làm việc chỉ nên tập trung cho công việc.

5. Truyền miệng và quảng bá bằng video

Vì các doanh nghiệp Nhật Bản đa phần chỉ biết tiếng Nhật nên họ rất hạn chế trong việc cập nhật thông tin. Để tìm hiểu và đánh giá một đối tác, phương pháp nhanh nhất mà họ chọn là truyền miệng. 
Chỉ cần một đối tác Việt được người Nhật đánh giá tốt thì tự nhiên các người khác sẽ tự tìm đến để hợp tác. Ngược lại, nếu sản phẩm không được đánh giá tốt thì các doanh nghiệp còn lại trong lĩnh vực đó sẽ tự động rút lui và từ chối hợp tác.

Không những vậy, Chính quyền Nhật chỉ cho phép giảng dạy một ngôn ngữ duy nhất trong các trường học là tiếng Nhật nên việc nói tiếng Anh của người Nhật rất hạn chế. Vì vậy, trước khi đàm phán, người Việt cần chuẩn bị sẵn người biết tiếng Nhật để dễ dàng giao dịch hơn.

Nếu muốn quảng bá một sản phẩm tới người tiêu dùng tại Nhật thì doanh nghiệp Việt nên quảng cáo bằng video, bởi người Nhật rất thích câu “trăm nghe không bằng một thấy”. 

6. Tận dụng danh thiếp

Nhật Bản là một trong những nước hay sử dụng danh thiếp nhất thế giới. Việc không có danh thiếp sẽ không để lại ấn tượng tốt với khách hàng. 

Khi nhận danh thiếp cần nhận bằng hai tay rồi đọc những thông tin được in trên đó thật cẩn thận. Người kinh doanh không được cất danh thiếp vào túi mà cần bỏ vào một chiếc hộp thật cẩn thận để sử dụng nó. 

Đây được coi như là phần quyết định đến việc thành bại của buổi giao dịch.

Với những bí quyết trên do chính người Nhật chia sẻ, chúc các bạn thành công khi hợp tác làm ăn với người Nhật!

Phan Diệu
* Ghi lại theo lời chia sẻ của ông Jun Takagi - nhà sáng lập tập đoàn Ubiquitous và dự án Japan Circle tại hội thảo Japan Circle CEO Caravan, tổ chức tại TP.HCM ngày 23.3.

Theo Một Thế Giới

Saturday, March 21, 2015

Mahatma Gandhi: Hãy thay đổi rồi bạn sẽ thấy kết quả

Ứng dụng những lời khuyên bảo của Mohandas Karamchand Gandhi trong việc lãnh đạo trong môi trường làm việc của doanh nghiệp.

Nội dung nổi bật: 

Lãnh tụ Mahatma Gandhi được xem như biểu tượng của nhà lãnh đạo yêu chuộng hòa bình với những triết lý sâu sắc có thể ứng dụng vào nhiều mặt trong cuộc sống, trong đó có cả việc làm thế nào để biến đổi và thu phục nhân tâm trong doanh nghiệp:

- Hãy trở thành sự thay đổi bạn muốn thấy trên thế giới

- Hạnh phúc là khi những gì bạn nghĩ, những gì bạn nói và những gì bạn làm đều hòa hợp.

- Con đường tốt nhất để tìm thấy chính mình là quên đi bản thân khi phục vụ người khác.

- Sức mạnh gồm có hai loại. Một loại có được từ nỗi sợ bị trừng phạt, còn loại kia có được từ những hành động yêu thương.


Mohandas Karamchand Gandhi, thường được mọi người biết với tên Mahatma (nghĩa là “linh hồn vĩ đại”) Gandhi từng là một vị lãnh tựu nổi bật trong cuộc đấu tranh giành độc lập từ đế quốc Anh của nhân dân Ấn Độ. Ông được tôn thờ như một biểu tượng của hòa bình và sự thật. Trên cương vị một nhà lãnh đạo, chúng ta có thể học được rất nhiều từ những lời dạy của ông.

Mặc dù những câu nói và lời dạy của Gandhi chủ yếu được ứng dụng chung vào toàn nhân loại, có nhiều lời khuyên của ông có thể được áp dụng một cách thích hợp và biến đổi phù hợp với môi trường làm việc.

Hãy là sự thay đổi mà bạn muốn được thấy trên thế giới này

Một trong những cách đơn giản nhất để dẫn dắt và tạo cảm hứng cho nhân viên là việc trở thành một tấm gương lãnh đạo tốt. Sau tất cả thì hành động có ý nghĩa lớn hơn cả lời nói - nhất là đối với nhân viên. Trách nhiệm của người chủ chính là tạo cảm hứng và động viên nhân viên của mình thúc đẩy bản thân và đạt đến hiệu quả làm việc cao nhất.

Do các nhân viên thường có xu hướng quan sát những gì sếp của mình làm, người quản lý phải hành xử một cách đúng đắn. Chẳng hạn như, nếu như tán gẫu trong giờ làm gây xao lãng nhân viên khác và có tác động xấu đến văn hóa của công ty, hãy lái các cuộc nói chuyện xa ra khỏi việc này. Nếu nhân viên không nhận trách nhiệm cho sai lầm của họ, hãy chỉ cho họ thấy làm cách nào để giải trình một cách công khai khi cần thiết.

“Hạnh phúc là khi những gì bạn nghĩ, những gì bạn nói và những gì bạn làm đều hòa hợp”

Nói một cách khác, hạnh phúc trong công sở và năng suất làm việc phụ thuộc rất lớn vào việc liên kết những suy nghĩ, từ ngữ và hành động của các nhân viên. Đây là việc làm hết sức quan trọng tới việc sắp xếp những mục tiêu của nhân viên phù hợp với mục đích chung của công ty.

Nhân viên nên thấu hiểu được những mục tiêu của công ty, vì thế cho nên sếp chính là người phải gắn kết các nhiệm vụ lại với nhau. Một nhân viên thường xuyên được cập nhật và hiểu được chiến lược của công ty có thể sắp xếp những mục tiêu của họ tốt hơn để từ đó đạt được mục tiêu của tổ chức.

“Con đường tốt nhất để tìm thấy chính mình là quên đi bản thân khi phục vụ người khác”

Một phẩm chất mà nhiều nhà lãnh đạo có điểm chung với nhau chính là họ sẵn sàng giúp những người cần giúp đỡ. Đây là một tính cách đặc biệt cần thiết cho việc lãnh đạo trong môi trường làm việc. Trong việc nỗ lực đễ giữ những nhân viên hài lòng với vị trị của họ và xa hơn nữa là tạo động lực cho nhân viên theo đuổi những mục tiêu trong công việc, hãy xem xét áp dụng một chính sách mở. Hãy cho nhân viên biết rằng, khi họ cần giúp đỡ, họ luôn được chào đón – và được khuyến khích – yêu cầu sự giúp đỡ.

Lời khuyên này từ Gandhi còn có thể kể đến các nỗ lực nhân ái của công ty. Việc hợp tác trong hoạt động cho đi không chỉ có ảnh hướng lâu dài vào cộng đồng, mà còn đem lại lợi ích cho hình ảnh của công ty, tinh thần đồng đội, sự cam kết của nhân viên và tinh thần của họ.  Một công ty có chung một mục đích phục vụ sẽ cùng nhau lớn mạnh và phát triển.

“Sức mạnh gồm có hai loại. Một loại có được từ nỗi sợ bị trừng phạt, còn loại kia có được từ những hành động yêu thương”

Sức mạnh dựa trên sự yêu thương có hiệu quả gấp ngàn lần và vĩnh cửu hơn cả loại sức mạnh đạt được từ nỗi sợ hãi và những hình phạt. Cách mà một nhà quản lý đối xử với nhân viên của họ có thể sẽ ảnh hưởng tốt hoặc xấu đến ý chí và năng suất làm việc của họ. Theo khảo sát vào năm 2014 thực hiện trên 2.100 giám đốc tài chính và gần 300 nhân viên được thực hiện bởi Tổ chức quản lý nhân lực trong xã hội (SHRM), chỉ ra rằng sự không hạnh phúc với cách quản lý chính là một trong những lý do hàng đầu các nhân viên rời bỏ công việc của họ.

Để nuôi dưỡng một đội ngũ nhân viên hạnh phúc và trung thành, hãy chủ động cho họ thấy họ được trân trọng nhiều như thế nào trong công việc. Hãy công nhận những thành công của nhân viên và chúc mừng những cột mốc quan trọng của họ. Ngay cả một lời “cảm ơn” đơn giản có thể là một sự khác biệt lớn đối với các nhân viên.

Theo Trí Thức Trẻ/Entrepreneur

Wednesday, December 17, 2014

Công ty gia đình Đông Nam Á: học Đức hay là chết?

Hệ sinh thái khổng lồ của nhóm công ty gia đình vừa và nhỏ (SMEs) nước Đức - Mittelstand - từ lâu đã góp phần không nhỏ duy trì sức khỏe cường tráng cho nền kinh tế Đức


Liệu các nền kinh tế mới nổi ở châu Á có khả năng sao chép lại hiện tượng kinh tế độc đáo này? 

Với 3,7 triệu công ty chiếm 95% tổng số doanh nghiệp trong nước, Mittelstand là “xương sống” của nền kinh tế nước Đức và cũng giữ vai trò chỉ huy trong một số thị trường xuất khẩu, nhờ vào chiến lược toàn cầu bền vững và thận trọng trong việc tạo ra các sản phẩm chất lượng cao, dịch vụ sáng tạo dựa trên năng lực kỹ thuật độc đáo.

Đức tự hào là "nhà vô địch ngầm" khi có đến 1.300 SMEs dẫn đầu thị trường toàn cầu trong các ngách kinh doanh của họ - Mỹ xếp thứ hai với 366 SMES. Doanh nghiệp Đức rất giỏi trong việc khai thác thị trường, nổi bật là sản phẩm công nghiệp và điện tử.

Chuyên gia Annie Koh thuộc Đại học Singapore Management University cho rằng không ít doanh nghiệp gia đình ở Đông Nam Á đang hướng đến mục tiêu trở thành bản sao của các công ty Mittelstand.

Kết quả một cuộc khảo sát do Viện Business Families Institute cùng Deloitte Đông Nam Á tiến hành tại trường Singapore Management University cho thấy mục tiêu ưu tiên của nhiều doanh nghiệp gia đình châu Á trong 3-5 năm tới là tăng cường nghiên cứu phát triển và đổi mới để cải thiện kinh doanh, lợi thế cạnh tranh.

Nhiều doanh nghiệp gia đình châu Á cùng chia sẻ thuộc tính chung với Mittelstand, như tinh thần kinh doanh mạnh mẽ, nhấn mạnh vào yếu tố gia đình theo nền văn hóa riêng và ý thức trách nhiệm xã hội.

Ngoài ra, không ít doanh nghiệp gia đình châu Á có vốn tư nhân dồi dào để được tự do định vị và thực hiện chiến lược dài hạn tốt hơn.

Nhưng mối quan hệ máu mủ trong các công ty gia đình châu Á không đủ “chất keo” để giúp trở thành một thế lực kinh tế mạnh mẽ.

Có rất nhiều gia đình kinh doanh ở châu Á chuộng cách đa dạng hóa nhiều lĩnh vực kinh doanh, dưới sự điều hành của công ty tổng quản lý các bộ phận điều hành.

Trong khi đó CNBC cho rằng để xây dựng được sản phẩm và dịch vụ "đắt" so với đối thủ toàn cầu, việc cần thiết nhất là phải củng cố tổ chức kinh doanh và tập trung vào nguồn lực hiện có.

Với các công ty Mittlestand, họ có thể có đến 3-4 thế hệ điều hành cùng một dòng máu, còn châu Á đa phần chỉ có 1 người con trai của Giám đốc điều hành đảm nhiệm vị trí đầu tàu.

Muốn phát triển doanh nghiệp, các công ty gia đình châu Á phải xây dựng được tính bền vững trong gia đình và quản trị công ty cùng với 1 thương hiệu đáng tin cậy nhất, nói cách khác là chuyên nghiệp hóa cả doanh nghiệp và gia đình để thu hút nhân tài. 

Mittelstand và những giá trị không thể đánh đổi
Mittelstand sở hữu quá trình đổi mới cực kỳ năng động: 54% công ty tạo ra một sản phẩm hoặc đổi mới trong giai đoạn 2008-2010 - so với mức trung bình của châu Âu chỉ 34%, 90% các bằng sáng chế hàng năm của Đức đều xuất thân từ Mittelstand.

Năm 2014, Mittelstand tạo ra gần 1 triệu việc làm mới, trái ngược với tình trạng cắt giảm gần 1/2 triệu nhân công ở một số tập đoàn lớn trong nước.

Mittelstand tích cực vun đắp mối quan hệ chặt chẽ với cộng đồng địa phương, làm việc với các trường học, chính quyền, nhà cung cấp, ngân hàng và các tổ chức khác tại địa phương.

Các chương trình tài trợ vốn của nhà nước chỉ đóng góp 11% vào nguồn tài chính của Mittelstand, còn ngân hàng thương mại giúp khoảng 29%.
Nguồn tiền chủ yếu đến từ vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp (54%). Do đó, sự hỗ trợ của chính phủ không phải là khởi nguồn duy nhất cho thành công Mittelstand, mà chỉ đóng vai trò như chất xúc tác, như khuôn khổ chính trị, kinh tế và xã hội Đức.
Ngược lại, hệ thống tài chính trong các nền kinh tế mới nổi ở châu Á đang bị các ngân hàng chi phối, chủ yếu tập trung vào các tập đoàn lớn và ít quan tâm đến các SMEs.
CHÂU LUÂN (Theo CNBC, Asian Pathways)/Tuổi Trẻ

Saturday, December 6, 2014

Cừu – Đại bàng và công cuộc đi tìm nhân viên hoàn hảo

“Tại sao một người rời khỏi công ty? Không hẳn vì lương thưởng hay chế độ đãi ngộ, mà vì họ không tương thích hay phù hợp với văn hóa ở công ty đó”. 

Đây là thông tin được chia sẻ bởi chuyên gia đào tạo phát triển cá nhân hàng đầu Châu Á – ông Leroy Frank Ratnam - tại sự kiện khởi động chuỗi hội thảo về nghề nhân sự với chủ đề “Đào tạo để giữ chân nhân tài bằng phương pháp NLP” diễn ra chiều 4/12/2014.



NLP là gì?


Phương pháp NLP (Neuro Linguistic Programming) còn được biết đến với tên gọi “Lập trình ngôn ngữ tư duy”, một khái niệm khá mới trong đào tạo và quản trị nhân sự Việt Nam.


“Thực tế triển khai đào tạo ứng dụng NLP tại Việt Nam cho thấy phương pháp này có thể tác động rất sâu đến “phần chìm của tảng băng” trong mỗi con người”, ông Leroy cho biết.


Theo giải thích của ông, phần “tảng băng chìm” ở đây chính là tiềm thức, là năng lực tiềm ẩn chưa được khám phá của nhân viên, hoặc cũng chính là những giới hạn, rào cản mà người lao động tự đặt ra cho chính mình để từ chối làm việc hết mình, từ chối hành động dẫn đến không hoàn thành nhiệm vụ.


Tác động được đến “tảng băng chìm” này sẽ tạo nên chất xúc tác mạnh mẽ thúc đẩy tinh thần cống hiến và đam mê làm việc cho công ty, từ đó, tạo nên nguồn doanh thu và lợi nhuận tốt nhất cho doanh nghiệp trên thị trường.


Bà Đỗ Thanh Tâm – Giám đốc Growth Catalyst Vietnam (GCV), đơn vị tổ chức hội thảo cho hay: 
Khi làm việc, lao động Việt Nam chưa thấy giá trị và niềm tin của họ gắn với giá trị và mong muốn, sứ mệnh và nhiệm vụ của tổ chức. Chính vì vậy, họ không đem hết công sức của mình vào trong công việc. Họ luôn bị phân tán bởi rất nhiều yếu tố”.


“Trong nhân sự chúng tôi rất hiểu để giữ chân nhân tài cần những yếu tố về lương thưởng, những cơ hội phát triển cá nhân cho họ… Tuy nhiên, từ góc nhìn của GCV, sự thay đổi đột biến nằm ở tầng ngầm của mỗi cá nhân. Đấy chính là hiệu suất cá nhân và cách họ nhìn bản thân họ như thế nào. Cái đó sẽ tạo ra động lực để họ thay đổi lớn nhất, sẽ tác động đến phần sâu nhất của con người, thay đổi được ý thức hệ và nâng cao năng suất làm việc của từng người lao động tại Việt Nam”.


Cừu – Đại bàng và công cuộc đi tìm nhân viên hoàn hảo


Chúng ta không tìm một ứng cử viên hoàn hảo – một đối tượng không hề tồn tại, mà phải tạo ra môi trường tốt nhất để mang đến những yếu tố tạo ra một nhân viên hiệu quả nhất” – ông Leroy nói.


Ông Leroy cho rằng chúng ta có thể làm được điều đó bằng cách sử dụng NLP để thay đổi tư duy từ tư duy của con Cừu (những người thiên về cảm xúc và thường có suy nghĩ tiêu cực khi có sự kiện xảy ra) thành tư duy của con Đại bàng (những người biết tự chịu trách nhiệm, có tư duy lãnh đạo và đổi mới).


Có 2 cách để làm việc này: Một là sa thải họ. Với cách này, chúng ta sẽ phải thuê người mới nhưng không có gì đảm bảo chúng ta không thuê phải một người có tư duy con cừu tương tự và việc đó sẽ không bao giờ kết thúc. Hai là, chúng ta tạo ra một văn hóa. Khi mọi người bước vào văn hóa đó, sẽ bị đồng hóa rồi sẽ có tư duy như một con đại bàng” – ông Leroy giải thích.


Khi đã tạo ra văn hóa đúng, khi có người mới đến, chúng ta không phải lo họ có làm được việc hay không mà văn hóa của công ty sẽ dạy họ. Trong trường hợp họ không tương thích với văn hóa công ty, họ sẽ rời đi.


Ông Leroy cho rằng, phương thức tạo ra một nhân viên hiệu quả cũng giống như cách giữ chân nhân tài – đó là văn hóa làm việc.


Tại sao một người rời khỏi công ty? Không hẳn vì lương thưởng hay chế độ đãi ngộ, mà vì họ không tương thích hay phù hợp với văn hóa ở công ty đó”, ông cho hay.


Nếu chúng ta đi vào một văn hóa cực kỳ tích cực thì chúng ta rất mong muốn đạt được một nền văn hóa tương tự. Cách suy nghĩ như vậy sẽ trở thành nguyên tắc hành xử. Trong công ty tôi, cho dù có sự kiện gì xảy ra, họ đều hỏi những câu hỏi: Có chuyện gì xảy ra? Chúng ta học được gì từ cái này? Chúng ta làm gì để xoay chuyển vấn đề này?


Hội thảo về nghề nhân sự với chủ đề “Đào tạo để giữ chân nhân tài bằng phương pháp NLP” do Growth Catalyst Vietnam (GCV) tổ chức chiều ngày 4/12. Liên quan đến hiệu suất lao động thấp của người Việt, bà Đỗ Thanh Tâm, Giám đốc GCV cho hay: “Báo cáo gần đây nhất của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) cho hay hiệu suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 1/15 so với Singapore. Với những người trẻ như chúng tôi, đó cũng là một sự tổn thương. Rõ ràng, người Việt Nam rất thông minh, đi thi bất cứ cuộc thi nào cũng đứng đầu, nhưng tại sao hiệu suất lao động của người Việt Nam lại thấp như vậy”.

“Chúng tôi cũng có nghiên cứu trên cơ sở đội ngũ học vụ, những chuyên gia đầu ngành đào tạo tại Singapore và nhận thấy nguyên nhân nằm ở ý thức, cái tầng ngầm của “tảng băng chìm” – đấy là ý thức và tiềm thức của người Việt Nam”.


Theo Trí Thức Trẻ
 
>> Vì sao lao động Việt thi tay nghề đứng đầu ASEAN, nhưng năng suất chung vẫn thấp?

"Miễn phí" mà vẫn kiếm nhiều tiền

Google là một trong những công ty sinh lời nhất nước Mỹ. Họ đã kiếm được rất nhiều tiền mà không bắt người khác phải trả tiền. Miễn phí nhưng vẫn kiếm đủ để căn bản tạo nên một nền kinh tế với quy mô của một quốc gia khá lớn. Chuyện này xảy ra như thế nào và sẽ đi về đâu?


Về tác giả

Chris Anderson sinh năm 1961, hiện đang sinh sống ở California, USA. Ông từng làm việc cho các tạp chí nổi tiếng như Nature, Science và The Economist.
Năm 2001, ông lãnh đạo tờ Wired - một tạp chí đã giành nhiều giải thưởng lớn ở Hoa Kỳ. Năm 2006, ông xuất bản cuốn “Cái đuôi dài” (Long Tail) - best seller thời điểm ấy.
Năm 2009, ông được đưa vào danh sách 50 nhà tư tưởng lớn của thế giới, cùng với những nhân vật như Steve Johs, Jack Welch, Bill Gate, Paul Krugman, Joseph Stiglitz, Michael Porter, Daniel Goleman, Thomas Freedman…

Nội dung chính
LỜI GIỚI THIỆU
Với chiếc máy tính xách tay, ở quán cafe wifi, ta có thể ngồi làm việc một cách thoải mái. Mọi cái ta thực hiện trên máy tính từ thư điện tử cho đến lời nhắn tin trên Twitter, chạy chương trình duyệt Firefox, Google… đều hoàn toàn miễn phí (trừ café).
Miễn phí của thế kỷ XXI khác với thế kỷ XX như thế nào? Miễn phí không có gì mới, nhưng nó đang thay đổi, phải thấu hiểu miễn phí kiểu mới để chi phối thị trường ngày mai.

SỰ RA ĐỜI CỦA MIỄN PHÍ
Cuối thế kỷ XIX, Pearle Wait chiết xuất chất Glatin từ thịt và xương để tạo ra một gia vị thực phẩm mới rất hấp dẫn là Joll_0. Nhưng ông không thể bán được hàng vì sản phẩm còn rất xa lạ với người tiêu dùng. Cuối cùng ông phải bán nhãn hiệu này cho Frank Woodward với giá 450 USD. Nhưng rồi tình hình thật ảm đảm, hàng tồn kho ngày càng nhiều, Woodward nản chí, bán lại cho Nico với giá 35 USD nhưng Nico từ chối.

Năm 1902, Woodward cùng người phụ tá của mình thử cách khác: Trước hết họ đăng một mẫu quảng cáo trên Ladies’Home journal với giá 336 USD, rồi in hàng ngàn quyển sách mỏng giới thiệu Joll_0 với những công thức chế biến thực phẩm phát miễn phí cho các bà nội trợ.

Đến 1904 chiến dịch bán hàng đã thành công rực rỡ, doanh số đạt đến 1 triệu USD. Woodward hiểu rằng “miễn phí là một từ có quyền năng siêu việt”, miễn phí không có nghĩa là phi lợi nhuận mà có nghĩa rằng sản phẩm phải đi trên con đường gián tiếp đến với thị trường.

King Gillette

Cùng khoảng thời gian đó, tại Boston, một ngày nọ, King Gillette đang cạo râu bằng con dao xếp đã mòn đến mức không còn mài được nữa, ông nảy ra ý tưởng làm lưỡi dao bằng một băng kim loại mỏng, để thay vì phải mất thời gian mài dao, người ta chỉ cần vứt đi khi dao cùn. Lưỡi dao cạo dùng xong rồi bỏ đã ra đời từ đó.

Trong năm đầu 1903, Gillette chỉ bán được tổng cộng 51 con dao và 168 lưỡi dao. Những năm tiếp theo, Gillette đã thử mọi mẹo marketing, như: cho in hình mình trên bao bì, bán hàng triệu dao cạo cho quân đội với giá rẻ, bán từng lô dao cạo cho ngân hàng để họ tặng khách hàng, dao cạo được bán kèm với mọi thứ từ kẹo cao su đến các gói café, trà, hương liệu, thậm chí phát không cho khách hàng.
Bằng những cách ấy, Gillette đã tạo ra nhu cầu lưỡi dao cạo dùng xong rồi bỏ. Gillette đã bán dao cạo với giá rất rẻ, nhưng lưỡi dao thì có giá tương đối cao.

Sau này, người ta áp dụng mô hình của Gillette trong tất cả các ngành: cho không điện thoại di động, thu phí sử dụng hàng tháng; bán máy chơi game với giá rẻ nhưng bán các trò chơi với giá đắt; lắp đặt các máy pha café tại các văn phòng không thu phí để rồi bán café gói cho các chủ văn phòng.

Vào buổi bình minh của thế kỷ XX, miễn phí tiếp thêm sức sống cho cuộc cách mạng của người tiêu dùng. Miễn phí là lời hiệu triệu của những nhà tiếp thị hiện đại và luôn được người tiêu dùng đáp lại.

Miễn phí của thế kỷ XXI

Miễn phí của thế kỷ XXI không phải là thứ mẹo, mà là một khả năng mới phi thường làm giá thành của sản phẩm và dịch vụ giảm xuống gần bằng không. Hình thức miễn phí dựa trên kinh tế học của những con số nhị phân chứ không phải là nguyên tử. Đó là phẩm chất độc nhất vô nhị của thời đại số khi mà một thứ nào đó trở thành phần mềm thì nó không tránh khỏi trở thành miễn phí.

MIỄN PHÍ LÀ GÌ?

Miễn phí nhập môn
Miễn phí gốc là một từ ghép trong tiếng Latin bao gồm từ Liber (tự do) và Grastis (để cảm ơn). Ý nghĩa “tự do” tích cực đôi lúc cũng gây ra sự mơ hồ nên phải dùng từ Gratis để nhấn mạnh thực sự miễn phí. Nhưng rồi kết cục người ta lại dùng một từ free duy nhất. Từ free, miễn phí hay tự do có gốc từ tiếng Anh cổ freon, freogan (tự do, tình yêu). Như vậy, free - miễn phí xuất phát từ ý niệm xã hội của sự giải thoát, cả khỏi ách nô lệ lẫn chi phí.

Muôn hình vạn trạng của chi phí

"Miễn phí” có rất nhiều ý nghĩa. Đôi lúc “free” không thực sự miễn phí: mua một tặng một, miễn phí giao hàng (có nghĩa phí giao hàng đã tính trong giá bán), hàng mẫu miễn phí (free sample), dùng thử miễn phí (free trial) - tạo tâm lý mắc nợ, khuyến khích người tiêu dùng mua sản phẩm nguyên giá…
Đôi khi miễn phí thực sự là miễn phí và đây là mô hình mới, hầu hết số này có tính trực tuyến, nơi mà kinh tế số thống trị với mức phí tiến dần bằng không.

Các dạng miễn phí nói trên đều chỉ là biến thiên của một mô hình chung: điều chuyển tiền vòng quanh từ sản phẩm này sang sản phẩm khác, từ người này sang người khác, giữa hiện tại và tương lai, hoặc vào thị trường phí tiền tệ rồi trở ra. Các nhà kinh tế học gọi chúng là “hỗ trợ qua lại”.

Cả thế gian đều hỗ trợ qua lại

Hỗ trợ qua lại là tinh thần của thành ngữ “Không có gì là miễn phí” (There’s no such thing as a free luch – đừng hòng có bữa trưa mà không phải trả tiền). Điều đó có nghĩa là cách này hay cách khác sẽ có người trả tiền cho bữa trưa.
Hỗ trợ qua lại có thể diễn ra theo một vài hình thức khác nhau:
- Sản phẩm có chi phí bù cho sản phẩm miễn phí.
- Trả tiền sau, tài trợ cho miễn phí hiện tại, tiền sử dụng điện thoại hàng tháng trả cho chiếc điện thoại miễn phí ban đầu.
- Những người trả tiền, tài trợ cho những người miễn phí, đàn ông mua vé vào hộp đêm, có thể dẫn theo phụ nữ không phải trả tiền. Người lớn dẫn trẻ em vào vườn bách thú miễn phí nhưng rồi người lớn phải trả tiền cho những trò chơi của trẻ…

Mô hình miễn phí rơi vào một trong bốn loại sau:

1/ Hỗ trợ chéo trực tiếp
Cho không sản phẩm hoặc dịch vụ để khuếch trương và thu lợi các sản phẩm và dịch vụ khác (ví dụ về King Gillette, về điện thoại miễn phí).
2/ Thị trường ba bên
Đài phát thanh, truyền hình phủ sóng miễn phí, mạng internet, các đối tượng khách hàng dùng các phương tiện đó miễn phí nhưng các nhà quảng cáo sẽ trả tiền cho mọi thứ. Người tiêu dùng có cảm giác mặt hàng chính yếu mình đang quan tâm là miễn phí, nhưng cuối cùng họ cũng sẽ mất tiền một cách gián tiếp, qua mức giá sản phẩm cao hơn.
3/ Miễn phí giá cao
Năm 2009, Chris Anderson được đưa vào danh sách 50 nhà tư tưởng lớn của thế giới, cùng với những nhân vật như Steve Johs, Jack Welch, Bill Gate, Paul Krugman, Joseph Stiglitz, Michael Porter, Daniel Goleman, Thomas Freedman…

Với sản phẩm số, 5% khách hàng sẽ trả tiền cho 95% khách hàng còn lại, điều này có nghĩa là mỗi khách hàng trả tiền sử dụng phiên bản giá cao đầy đủ chức năng thì mười chín người khác được sử dụng phiên bản miễn phí ít chức năng hơn.

4/ Thị trường phi tiền tệ: Dạng này có vài hình thức:

Nền kinh tế quà tặng: Mười hai triệu bài viết trên wikipedia, hàng triệu món đồ đã qua sử dụng được rao trên Freecyete chỉ để cho tặng, bạn cho Google thông tin khi bạn sở hữu một website mở, bạn cho một kẻ vô gia cư những vật dụng mà anh ta nhặt từ thùng rác nhà bạn… Phương thức phân phối với chi phí bằng không đã biến việc chia sẻ trở thành một ngành kinh doanh, theo đó bạn sẽ được những giá trị như niềm vui, sự thỏa mãn, danh tiếng, và internet cung cấp một nền tảng cho phép hành động của từng cá nhân có thể gây ảnh hưởng toàn cầu.

Đổi công: Mỗi lần bạn tìm kiếm trên Google, bạn đã giúp Google cải thiện các thuật toán nhằm mục tiêu quảng cáo của họ. Dù bạn có nhận thức được hay không, bạn đã trả bằng công lao động của mình cho một thứ hàng miễn phí.

Vi phạm bản quyền: Âm nhạc trực tuyến thể hiện bằng việc chuyển đổi nhạc sang dạng số và chia sẻ chúng qua mạng, chi phí cho phổ biến âm nhạc thực sự chạm đáy, mọi biện pháp chống lại sự vi phạm bản quyền đã chào thua. Người nghệ sĩ phải chấp nhận thực tế đó, đối với họ, âm nhạc như một phương tiện tiếp thị, là niềm vui, xây dựng hình ảnh và danh tiếng.

Ba mức giá: Hầu như ta chỉ nói về hai mức giá trị: có phí và miễn phí, nhưng còn một mức giá thứ ba thấp hơn cả miễn phí, đó là mức giá âm: bạn được trả tiền để sử dụng một sản phẩm hoặc dịch vụ thay vì ngược lại. Trong hầu hết các trường hợp thì trước sau gì rồi bạn cũng bỏ tiền ra. Ví dụ: phần tiền được thưởng sau khi thanh toán đầy đủ tạo ra một tâm lý hoàn toàn khác so với việc phải trả một số tiền ít hơn ngay từ đầu.

LỊCH SỬ MIỄN PHÍ
Số 0
Khi người Ấn Độ phát minh ra môn đại số, họ mở rộng thêm số âm và số 0 từ thế kỷ IX. Từ “zero” trong ngôn ngữ Ấn là Sunya, có nghĩa là trống rỗng, người Ả Rập chuyển thành sifr, phương Tây Latin hóa nó thành zephirus, chính là gốc của từ zero.

Rắc rối của miễn phí

Đến năm 900, đã có đủ ký hiệu lẫn cơ sở đại số cho khái niệm “không” thì nó đã cùng tồn tại song song với khái niệm “economics”. Từ nguồn gốc Hy Lạp cổ, oikos (nhà) và nomos (tập quán hay luật lệ) do đó nó có ý nghĩa là “luật gia đình” và miễn phí luôn là luật trong nhà.

Từ khi nền kinh tế trên cơ sở tiền tệ hình thành, các giao dịch hầu như không liên quan đến giá cả mà dựa trên sự hào phóng, tin tưởng, thiện chí giữa các láng giềng và các nhóm xã hội. Vào thế kỷ XVII, khái niệm thuế lũy tiến ra đời, việc thành lập các thể chế nhà nước tạo ra một dạng miễn phí đặc biệt: bạn có thể không trả phí cho dịch vụ của chính quyền, nhưng bạn sẽ chẳng bao giờ biết chính xác bao nhiêu tiền thuế của mình được dùng để phục vụ trực tiếp cho bạn.

Bữa trưa miễn phí đầu tiên

Đến cuối thế kỷ XIX, nền kinh tế thị trường đã được thiết lập vững vàng, đồng tiền đã chứng tỏ mình là xúc tác cho tăng trưởng và là chìa khóa để đến với thịnh vượng. Đến thời kỳ mà King Gillette và Pearle Wait tạo dựng được cả gia sản từ miễn phí, khách hàng đã quen thuộc với câu “làm gì có bữa trưa miễn phí”.

Hàng mẫu, quà tặng và dùng thử

Vào đầu thế kỷ XX, miễn phí đã trở thành một mẹo bán hàng. Xà phòng Babbitt’s Soap trở nên nổi tiếng toàn quốc nhờ các chiến dịch quảng cáo và khuyến mãi, trong đó có đợt phân phối hàng dùng thử miễn phí trên quy mô lớn đầu tiên.

Free như một vũ khí cạnh tranh

Ngày nay, chúng ta biết rằng cách hủy diệt nhất để xâm nhập thị trường là phá hủy tính kinh tế của những mô hình kinh doanh đang tồn tại. Chẳng hạn không tính tiền sản phẩm đang là nguồn lợi nhuận chủ yếu của đối thủ.

Vụ đánh cược sai lầm của Ehrlick

Ý tưởng hàng hóa sẽ trở thành rẻ hơn chứ không đắt hơn theo thời gian là ngược với trực giác. Thực phẩm có thể tái tạo chứ khoáng sản thì không, chúng ta khai quặng càng nhiều thì còn lại càng ít, đó là điển hình của khan hiếm trong lúc dân số thế giới ngày càng gia tăng. Nhưng tháng 9/1980, Paul Ehrlick, một nhà sinh học dân số, và Julian Simon, một nhà kinh tế học, đã đánh cược với nhau một cách công khai với số tiền là 10.000 USD.

Simon tuyên bố: “Giá của các nguyên liệu khô mà nhà nước không kiểm soát sẽ không tăng trong dài hạn”. Ehrlick chọn năm kim loại là đồng, chrome, nickel, thiếc và tungsten. Mười năm sau, giá các kim loại đó đã giảm hơn một nửa - Simon đã thắng cược. Vì sao Simon thắng cược? Vì ông là một nhà kinh tế tài ba, hiểu được tác động của hàng hóa thay thế: Nếu một mặt hàng trở nên quá khan hiếm và đắt đỏ, đó sẽ là động cơ để tìm kiếm mặt hàng thay thế có nhiều hơn. Óc sáng tạo của loài người và khả năng rút kinh nghiệm trong khoa học và công nghệ sẽ có xu hướng tạo ra các nguồn lực mới nhanh hơn tốc độ sử dụng.

Mù lòa trước dư dả

Điều hiển nhiên là Simon có nhiều cơ hội thắng cuộc hơn. Nhưng khuynh hướng để ý đến những thứ khan hiếm hơn là thừa thãi xuất hiện. Ví dụ tiêu biểu nhất là plastic: người ta bán thế hệ chất dẻo plastic đầu tiên không phải như chất dùng xong rồi bỏ, nhưng thế hệ thứ hai của plastic với Vinyl và Polystyrene thì rẻ đến nỗi người ta có thể dùng xong rồi vứt đi mà không phải bận tâm chút nào.
Sau thập niên 70, thái độ đối với siêu thừa thãi như vậy đã bắt đầu thay đổi. Chi phí xử lý môi trường phải trả cho văn hóa tiêu dùng một lần rồi bỏ đã trở nên rõ ràng hơn. Cho nên, một thế hệ mới bắt đầu công việc tái chế đồ bỏ đi.

Sự thừa thãi lên ngôi

Câu chuyện của thế kỷ XX là câu chuyện sự thay đổi ghê gớm về mặt xã hội và kinh tế do sự dư dả dẫn dắt. Tương tự như việc nước luôn luôn chảy xuôi, tính kinh tế chảy về phía có sự dư thừa. Những công ty tìm kiếm lợi nhuận phải ngược dòng tìm kiếm sự khan hiếm mới, điều đó Tim O’Reilly gọi là “ định luật bảo toàn mức lợi nhuận hấp dẫn”. Ngày nay, chỉ còn 32% công ty chế tạo ra sản phẩm cầm nắm được. Các công ty còn lại chuyển qua cung cấp dịch vụ, tạo ra sản phẩm sở hữu trí tuệ, tạo ra thị trường cho sản phẩm của những người khác.

Một vài thập kỷ trước, giá trị lớn nhất nằm trong sản xuất. Sau đó toàn cầu hóa nằm trong sản xuất. Ngày nay mức lợi nhuận cao nhất thường thấy ở những nơi chất xám kết hợp với vật chất. Sự kết hợp giữa kiến thức, kỹ năng và tư duy trừu tượng là điều làm nên một người lao động tri thức có hiệu quả.

KHOA HỌC TÂM LÝ VỀ MIỄN PHÍ

Nếu có thứ gì đó trước đây phải mất tiền mua, còn nay thì không, chúng ta có xu hướng đồng hóa hiện tượng đó với suy giảm chất lượng. Nhưng đối với những thứ chưa bao giờ phải mất tiền mua, chúng ta không suy nghĩ tương tự.

Kẽ hở tí hon

Trong hầu hết các trường hợp, chỉ một xu - một mức giá thường được coi như vô nghĩa - cũng có thể ngăn đại đa số người tiêu dùng lại. Vì bộ não của chúng ta được thiết kế để báo động mỗi khi chúng ta gặp phải một cái giá, lời báo động là “có đáng không nhỉ?”. Và chúng ta có xu hướng lựa chọn những thứ đòi hỏi ít phải suy nghĩ nhất. Theo cách nhìn của khách hàng, giữa rẻ và miễn phí có một khoảng cách vô cùng lớn.

Giá của miễn phí

Hầu hết các giao dịch có ưu điểm lẫn nhược điểm, nhưng khi có thứ gì cung cấp miễn phí, chúng ta sẽ quên mất nhược điểm của nó. Đó là vì người ta có bản chất sợ thiệt thòi. Khi nhận được cái gì đó miễn phí, bạn không hề phải đối diện với một khả năng bị mất mát nào cả, nhưng khi bạn chấp nhận một thứ không miễn phí, xác xuất chịu mất mát xuất hiện.

Không chi phí, không cam kết

Miễn phí có thể khuyến khích thói tham ăn, vơ vét, tiêu dùng thiếu suy nghĩ, tội lỗi và lòng tham. Chúng ta lấy đồ vì chúng có sẵn đó chứ không phải vì chúng ta cần. Cứ áp một mức giá, dù rất thấp chăng nữa, cũng sẽ khuyến khích hành vi có trách nhiệm hơn. Miễn phí là cách tốt nhất để tối đa hóa số người có thể tiếp cận với sản phẩm, dịch vụ, nhưng không phải đó là cái đích cuối cùng bạn nhắm tới, nó có thể gây ảnh hưởng tiêu cực. Như một công cụ mạnh khác, miễn phí phải được sử dụng cẩn thận bằng không thì lợi bất cập hại.

Phương trình thời gian / tiền bạc

Tại một thời điểm nào đó trong đời, bạn có thể tỉnh dậy và nhận ra rằng bạn có nhiều tiền hơn thời gian, rồi bạn cũng nhận ra rằng mình cần bắt đầu làm khác đi. Bạn trả tiền cho thứ gì đó để giảm bớt rủi ro vì giá cả đi liền với đảm bảo, trong khi miễn phí thì không.

Miễn phí lại có tác dụng tuyệt vời khi đi cùng với trả tiền. Nó có chỗ cho những tâm lý thay đổi của những khách hàng khác nhau, từ những người có nhiều tiền hơn thời gian cho đến những người nhiều thời gian hơn tiền bạc.

Đầu óc vi phạm bản quyền

Vi phạm bản quyền là một hình thức trộm cắp đặc biệt, thường bị những kẻ vi phạm cũng như những người tiêu thụ hàng hóa vi phạm bản quyền coi hành vi vi phạm nhưng không có nạn nhân.

Lập luận của họ là hàng hóa vi phạm hiếm khi thay thế được hàng hóa hợp pháp. Thay vào đó, nó cho phép sản phẩm tiếp cận với những người không đủ tiền mua hàng hợp pháp hoặc có tiền nhưng không chịu mua hàng hóa hợp pháp.

Cliff Harris tạo ra các trò chơi điện tử với mức giá 20 dollar nhưng lập tức các trò chơi của ông vi phạm bản quyền. Ông nghiên cứu, tìm hiểu và nhận ra rằng, người sử dụng đánh giá sản phẩm của ông thấp hơn ông tưởng, ông nghĩ mọi nỗ lực đảo ngược vấn đề là vô ích. Harris giảm giá các trò chơi của mình còn một nửa, nâng cao chất lượng trò chơi, làm gian hàng trên mạng của mình dễ sử dụng hơn để cạnh tranh với miễn phí.

MIỄN PHÍ KỸ THUẬT SỐ

Quá rẻ nên chẳng đáng quan tâm

Vào năm 1954, Lewis Strauss dự đoán những điều vĩ đại sẽ đến: bệnh tật sẽ bị khuất phục, con người di chuyển vượt đại dương, du hành trên không với vận tốc khổng lồ, chúng ta sẽ dùng điện với giá rất rẻ đến nỗi không phải mất công đo đếm… sẽ thay đổi thế giới .

Và thực sự khi khoa học và kỹ thuật bùng nổ sau chiến tranh, kinh tế tăng trưởng với mức độ chưa từng thấy, nhưng điện năng thì không rẻ đến mức có thể bỏ qua không cần đo đếm. Ngày nay có 3 công nghệ khác cũng có ý nghĩa đối với nền kinh tế với mức độ tương đương điện năng, đó năng lực xử lý của máy tính, lưu trữ kỹ thuật số và băng thông. Cả ba đang ngày càng rẻ đến nỗi người ta không phải bận tâm.

Đón rẻ

Khi chi phí mặt hàng bạn sản xuất giảm đều đặn, bạn có thể áp dụng cơ chế giá mà thoạt nhìn có thể coi là điên rồ. Thay vì bán nó với mức phí ngày hôm nay, bạn có thể bán nó với mức phí của ngày mai. Kevin Kelly gọi đó là “đón rẻ”. Chẳng hạn đầu thập niên 1960, hãng Fairchild Semiconductor đang bán những con transistor đầu tiên với mức giá 100 USD. Họ hiểu rằng sản lượng tăng chi phí sẽ giảm nhanh chóng, họ dùng chiến thuật đi trước triển vọng giảm giá, họ đặt mục tiêu với mức giá 1,05 USD, sau đó 50 cent mà vẫn thu được lợi nhuận, họ bảo “chúng tôi bán vào tương lai”.

Tại sao định luật Moore phù hợp với thực tế?

Hầu hết các quy trình sản xuất công nghiệp ngày càng cải thiện và diễn tiếp theo hiện ứng được biết đến với tên gọi là đường học tập (Learning curve), nhưng chỉ các quy trình đặt nền tảng trên chất bán dẫn là cải thiện nhanh hơn và duy trì lâu hơn. Về mặt kinh tế, đầu vào của sản phẩm bán dẫn hầu như tuyệt đối là trí tuệ thay vì vật chất. Ý tưởng là thứ hàng hóa thừa thãi sau cùng, có thể phát tán với mức chi phí biên bằng không, ý tưởng tự nó muốn được truyền bá rộng rãi, làm sung túc thêm cho mọi thứ khi nó chạm đến. Bản quyền được đặt ra như nỗ lực ngăn cản dòng chảy tự nhiên của ý tưởng, nhưng rồi bằng phát minh sáng chế cũng hết hạn, ý tưởng không thể che giấu mãi mãi.

Sản phẩm được tạo ra từ ý tưởng thay vì từ vật chất rẻ đi nhanh chóng hơn. Đây là gốc rễ của sự thừa thãi, điều dẫn tới miễn phí trong thế giới kỹ thuật số mà ngày nay chúng ta nói ngắn gọn là định luật Moore.

Định luật Mead

Gordon Moore nói rằng: “Nếu năng lực của máy tính ở một mức giá nhất định tăng gấp đôi sau mỗi hai năm, thì chi phí cho mỗi đơn vị năng lực tính toán phải giảm đi một nửa trong cùng khoảng thời gian đó”. Giống như Moore, Mead thấy rằng việc năng lực tăng gấp đôi sau mỗi mười tám tháng sẽ còn tiếp tục lâu dài vì nó được dẫn dắt bởi đường học hỏi và đường kinh nghiệm mà ông gọi là “đường kinh nghiệm kép”. Điều mà Mead nhận ra là hiệu ứng kinh tế này mang theo nó một mệnh lệnh tinh thần. Nếu Transistor đã trở nên quá rẻ, ông bảo các lập trình viên hãy phí phạm nó đi.

Con chuột cất tiếng rống

Kỹ sư Alan Kay phát triển một mẫu máy tính - Dynabook - có thể tận dụng các mạch silicon làm những chuyện vui vẻ trên màn hình như vẽ, định hướng con trỏ bằng chuột… Điều Kay nhận ra là làm cho công nghệ thật rẻ, dễ sử dụng và phổ biến để ai cũng có thể dùng được, để rồi nó có mặt khắp thế giới. Nhờ phí phạm transistor như vậy mà thế giới đã thay đổi.

Sắt và kính

Câu chuyện về chất bán dẫn đã trở thành huyền thoại của nền kinh tế kỹ thuật số. Sự thật là hai công nghệ có liên quan là không gian lưu trữ và băng thông đã vượt qua nó trong cuộc đua xuống đáy. Chiếc đĩa lưu trữ làm bằng sắt có thể giữ được từ trường mạnh, và ngành khoa học trung tâm ở đây là quang học. Tuy nhiên, tỷ lệ chất xám trên vật chất là mức cao, do đó các sáng kiến đổi mới thường xuất hiện để tái khởi động chu kỳ cải tiến kỹ thuật.

Điều thừa thãi có thể tạo ra

Băng thông rẻ đến mức không phải bận tâm nữa mang lại cho chúng ta Youtube. Nó nhanh chóng cách mạng hóa ngành truyền thông. Không gian lưu trữ rẻ đến mức không còn đo đếm đã mang đến cho chúng ta Gmail với dung lượng hộp thư không giới hạn, chưa nói đến Tivo, Flicks, Myspace và Ipod. Apple gia tăng dung lượng của đĩa cứng mà vẫn giữ nguyên giá và tốc độ nhanh hơn cho nhu cầu lưu trữ âm nhạc. Toshiba sẽ sớm sản xuất loại đĩa cứng cỡ 1,8inch lưu trữ được 5 gigabyte.
Giờ thì sự kết hợp cả ba công nghệ - xử lý, lưu trữ và băng thông - đã tạo ra web, sự thừa thãi đã nhân gấp bội.

“THÔNG TIN MUỐN TRỞ THÀNH MIỄN PHÍ”

Lịch sử một tuyên ngôn của thời đại số Steven Levy liệt kê bảy “triết lý của hacker”:
1. Việc tiếp cận với máy tính - và mọi thứ có thể dạy bạn chút gì đó về cách thức vận hành của thế giới - là không hạn chế và toàn diện.
2. Luôn luôn tuân theo niềm thôi thúc tự mình làm lấy!
3. Mọi thông tin cần được tự do.
4. Nghi ngờ quyền lực - cổ vũ cho phân quyền.
5. Đánh giá một hacker dựa trên khả năng thâm nhập như bằng cấp, tuổi tác, chủng tộc hoặc địa vị.
6. Chúng ta có thể tạo ra nghệ thuật và cái đẹp từ một chiếc máy tính.
7. Máy tính có thể làm cuộc đời ta tốt đẹp hơn.

CẠNH TRANH VỚI MIỄN PHÍ

Ngày 3/3/1975, Bill Gates của Microsoft viết “Thư ngỏ gửi những kẻ đánh cắp phần mềm”. Ông cảnh báo nếu việc này còn tiếp diễn, ông sẽ không thể viết phần mềm mới và mọi người sẽ cùng chịu thiệt.
Nhưng việc sao chép bất hợp pháp không bao giờ biến mất hoàn toàn, khi phần mềm chuyển từ các đĩa mềm khó sao chép sang CD, việc sao chép bất hợp pháp bùng nổ. Microsoft thêm mã an ninh trên gói sản phẩm với tem có hình ảnh ba chiều, kiện tụng, tuyên truyền đánh động, ngoại giao. Nhưng tình hình vẫn không thể kiểm soát nổi, nhất là ở các nước đang phát triển. Gates nói: “Dù sao thì một ngày nào đó họ sẽ trả, và khi họ còn ăn cắp thì chúng tôi muốn họ ăn cắp phần mềm của mình, họ sẽ trở nên nghiện và rồi chúng tôi sẽ tìm ra cách nào đó thu tiền vào thập kỷ tới”.

Dùng thử miễn phí

Trong thập niên 1990, các đối thủ cạnh tranh với Microsoft như WordPerfect office và Lotus Smartsuite chỉ yêu cầu các nhà sản xuất máy tính cá nhân phải trả một mức phí rất thấp để phần mềm của họ được đóng gói bán chung với máy tính mới. Gates quyết định đáp trả. Microsoft phát triển phiên bản giảm bớt tính năng của bộ office, được gọi là Microsoft works, và chỉ thu 10 dollar từ nhà sản xuất máy tính để bán kèm với bộ máy tính mới. Mức giá này cạnh tranh có hiệu quả, bởi vì works tương thích về định dạng file với bộ office đầy đủ, đây là cách để giữ người tiêu dùng trong phạm vi ảnh hưởng của Microsoftt. Công ty nhanh chóng phát triển trình duyệt miễn phí của riêng mình, internet explorer và gộp nó vào cùng mọi phiên bản hệ điều hành của công ty. Chiến lược này đã đạt kết quả mong muốn. Các viên chức chống độc quyền đã tố cáo công ty đã “trói” một sản phẩm miễn phí vào một sản phẩm mới trả tiền. Microsoft đã phải trả giá bằng hàng thập kỷ bị kiện cáo độc quyền và phải nộp phạt bởi hành vi chống lại tự do cạnh tranh.

Cuộc tấn công của chim cánh cụt

Lim Torvalds thực hiện một dự án khiêm tốn để tạo ra một biến thể đơn giản của hệ điều hành Unix mà ông gọi là Linux. Nhờ có mã lệnh tốt, tính cách lôi cuốn và kỹ năng tổ chức của người đứng đầu và quan trọng nhất là web đã trở thành phương tiện cho hợp tác toàn cầu, Linux đã cất cánh.
Từ cuối những năm 1990, trong nội bộ Microsofl thì Linux chỉ được coi như thêm một con muỗi quấy rầy nữa, không nghiêm trọng đến mức phải điều chỉnh chiến lược. Tại sao Microsofl phải mất rất nhiều thời gian mới nhận ra mối đe dọa? Năm giai đoạn đau đớn được Elisabeth Kybles-Ross kể như sau:

Giai đoạn 1: Chối bỏ

Microsoft làm gì trong thập kỷ đầu tiên của Linux? Chủ yếu là hy vọng hệ điều hành miễn phí này sẽ biến mất như hầu hết các phần mềm miễn phí trước đó. Microsoft thấy bối rối là tại sao khách hàng lại muốn dùng phần mềm miễn phí và rước mọi rắc rối đi cùng sản phẩm đó? Những người điều hành Microsoft coi nguồn mở chỉ là một thứ bị thổi phồng quá đáng. Các dự án phức tạp trong tương lai sẽ đòi hỏi các nhóm lớn và vốn đầu tư lớn mà đối thủ sẽ không thể nào thích hợp.

Giai đoạn 2: Tức giận

Microsoft quyết định lấy kinh tế làm chiến lược tấn công. Chi phí thực sự của phần mềm không phải là giá mua mà là chi phí duy trì. Microsoft công bố tài liệu “Năm chuyện hoang đường của Linux”, liệt kê những khuyết điểm kỹ thuật, tính năng, miễn phí thì không thực sự miễn phí, các nhà quản trị hệ thống Linux phải bỏ rất nhiều thời gian để hiểu những lỗi kỹ thuật đó. Tuy nhiên, những cáo buộc của Microsoft không có tác dụng. Giám đốc quan hệ công chúng tuyệt vọng: “Chúng ta phải phản ứng có hiệu quả hơn trước những thông tin báo chí về việc chính phủ và các tổ chức lớn đang xem xét các lựa chọn (nguồn mở) khác thay vì sản phẩm của chúng ta…”.

Giai đoạn 3: Mặc cả

Đến thời điểm của Linux world 2002, Microsoft đã rõ là họ cần có một chiến lược mới. Một cán bộ của Microsoft phát biểu: “Như thực tế trong quá khứ, mọi thứ chúng tôi nói chỉ đào huyệt chôn mình sâu hơn…”. Tại Linux world, các đại diện của Microsoft mặc áo có dòng chữ “Hãy đối thoại”.

Giai đoạn 4: Suy sụp

Năm 2003, họ thuê Bill Hilf, người từng điều hành chiến lược Linux thành công của IBM. Khi nói chuyện với các kỹ sư, Hilf nhận ra: “Rõ ràng là họ chẳng biết gì về nguyên lý vận hành nguồn mở, có một sự hiểu nhầm khủng khiếp - họ chỉ thấy nó như một đe dọa”.

Hilf muốn xây dựng một phòng thí nghiệm nguồn mở tại Microsoft, nó bị coi như một cơ sở có nguy cơ rủi ro sinh học. Những ai làm việc với nguồn mở không thể làm việc trong bất kỳ dự án nào khác của Microsoft.

Giai đoạn 5: Chấp nhận

Phòng thí nghiệm của Hilf hoạt động. Điều gì đã thay đổi? Đó là tính thực tế của cấp lãnh đạo, Gates và Ballmer. Đã đến lúc Microsoft phải thích nghi đảm bảo rằng phần mềm của họ chạy được với nguồn mở và ngược lại.

Thị trường đã quyết định rằng, có chỗ cho cả ba mô hình: hoàn toàn miễn phí, miễn phí phần mềm nhưng phải trả tiền cho hỗ trợ, và trả tiền cho mọi thứ.

Yahoo đấu với Google

Yahoo là nhà cung cấp dịch vụ thư điện tử trên web lớn nhất, với khoảng 125 triệu người sử dụng. Đó là một công việc béo bở.

Ngày 1/4/2004, Google thông báo về một dịch vụ thư điện tử mới trên web gọi là Gmail với dung lượng lưu trữ 1 Gigabyte miễn phí - gấp 100 lần con số của Yahoo. Google chưa có khách hàng dùng thư điện tử, nên họ đề xuất dịch vụ với dung lượng lớn như vậy thì chỉ cần vài máy chủ có thể chăm lo được cho vài ngàn khách hàng đầu tiên.

Muốn giữ vị trí hàng đầu, Yahoo phải đưa ra đề nghị hấp dẫn hơn nữa. Đến năm 2007, Yahoo tung hết chiêu, công bố không giới hạn hộp thư điện tử miễn phí. Cuối cùng chiến lược đã phát huy hiệu quả. Yahoo không mất đi thị phần quan trọng. Nhưng Google vẫn chưa bó tay, họ chỉ mới bắt đầu cuộc đua.

LOẠI TIỀN RA KHỎI CUỘC CHƠI

Google và sự ra đời của một mô hình kinh tế thế kỷ XXI

Ngày nay, Google có gần 100 sản phẩm từ phần mềm chỉnh sửa ảnh cho đến chương trình xử lý văn bản và bảng tính, và hầu hết là miễn phí. Miễn phí thực sự, không thủ đoạn gì hết. Google thực hiện theo cách mà bất kỳ công ty số hiện đại nào cũng nên làm: cho không thật nhiều sản phẩm để kiếm tiền từ một số ít.

Google kiếm được rất nhiều tiền từ quảng cáo trên một vài sản phẩm then chốt. Google luôn đặt câu hỏi về chất lượng chứ không phải về tiền. Miễn phí không chỉ là một bước đệm trên con đường đi đến một mô hình kinh doanh mà là cốt lõi trong triết lý sản phẩm của công ty.

Năm 1999-2001, Google phát minh ra cách tìm kiếm cho kết quả ngày càng tốt hơn. Cho phép khách hàng “tự phục vụ” bằng cách tự tạo ra các quảng cáo thích hợp, tạo ra vô số sản phẩm phục vụ, đưa ngày càng nhiều chức năng trước đây chạy trên máy để bàn lên “đám mây” (cloud). Đó là trung tâm dữ liệu của Google - một tòa nhà khổng lồ với hàng chục ngàn bảng mạch công nghệ kết hợp lại - xử lý, băng thông và lưu trữ. Ngày nay, ước tính Google có khoảng nửa triệu máy chủ trải trên hơn 36 trung tâm dữ liệu.

Chiến lược tối đa

Tại sao Google coi miễn phí là mặc định? Bởi vì, đó là cách tốt nhất để tiếp cận một thị trường lớn nhất có thể và được số đông chấp nhận. Schmidt gọi đó là “chiến lược tối đa” của Google.
Mỗi bài viết trên blog xuất hiện là chương trình quét của Google sẽ tạo chỉ mục để giúp Google xuất ra kết quả tìm kiếm tốt hơn. Đại đa số nhân viên của Google đang trăn trở tìm ra những sản phẩm mới để cho đi.

Google muốn thông tin được tự do bởi vì khi chi phí cho thông tin giảm xuống thì họ kiếm được nhiều tiền hơn.

CÁC MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG MỚI

Năm 1925 - buổi bình minh của ngành kinh doanh radio cho mục đích thương mại - là khởi đầu của văn hóa đại chúng thế kỷ XX. Chỉ có một vấn đề: không ai biết trả tiền cho những nội dung đó bằng cách nào, hoặc do những nhà sản xuất máy thu sóng radio trả tiền, hoặc khán thính giả phải đóng thuế hàng năm cho radio và TV họ sử dụng. Đã có một số gợi ý là quảng cáo là giải pháp.

Một vài thập kỷ sau, cả truyền thanh và truyền hình đều có những chương trình không thu phí và được tài trợ nhờ quảng cáo.

Quảng cáo vượt lên trên các phương tiện

Khi hình thành các trang báo in, chúng tôi không để những mẫu quảng cáo gần nội dung biên tập để tránh những xung đột tai hại giữa các câu chuyện hoặc yếu tố nghệ thuật, chúng tôi còn phải xây dựng lòng tin nơi độc giả. Google làm chính điều ngược lại, thành công của Google nhờ ở chỗ nó kết hợp quảng cáo với nội dung. Điều đó rõ ràng là bản chất của quảng cáo là khác biệt trên môi trường trực tuyến.

Đoạn kết của nội dung phải trả tiền

Mạng băng thông rộng là dạng “phát sóng” mới và các mạng truyền hình cáp giá cao giam hãm người xem ngày nay dường như đang tàn lụi. Đó là do thị hiếu của thế hệ mới và do xu thế công nghệ. Lý do dẫn đến việc giới kinh doanh chuyển sang mô hình miễn phí là:

1. Cung và cầu (cung tăng rất nhiều lần mà cầu thì không, số trang của Faceboook tăng nhiều hơn số trang của Times và chúng được tạo ra không hề với ý định thu tiền người đọc).

2. Không còn dạng cụ thể nữa.
3. Tiếp cận dễ dàng.
4. Bước chuyển sang nội dung do quảng cáo trả tiền.
5. Ngành kỹ nghệ máy tính mong muốn nội dung trở nên miễn phí.
6. Thế hệ miễn phí.

Đó là lý do tại sao các mô hình tài trợ bằng quảng cáo chiến thắng trong môi trường trực tuyến và là nguyên nhân làm chúng tiếp tục chiến thắng.

Chiến thắng của mô hình phương tiện truyền thống

Chúng ta coi “thông tin truyền thống” bao gồm phát thanh, truyền hình, tạp chí, báo và các trang web. Cách tốt nhất đo lường ảnh hưởng của nó đối với xã hội là thông qua thời gian người ta dành cho nó. Đo theo cách này, ít loại nào có thể sánh được với trò chơi trực tuyến.
Các loại hình thành công nhất:
1. Bán các món đồ ảo
2. Đăng ký thành viên
3. Quảng cáo
4. Bất động sản ảo
5. Hàng lưu niệm.

Sách miễn phí
Cũng giống như mọi thứ áp dụng mô hình miễn phí khác. Sách miễn phí không phải là không gây tranh cãi. Nhưng thị trường cho sách kỹ thuật số - sách nói, ebook và bản tải xuống từ web - đang phát triển nhanh chóng, phần nhiều để thỏa mãn nhu cầu mà sách in không làm được.

Đối với những sách về đề tài kinh doanh, sách miễn phí thường theo mô hình như nhạc miễn phí có tác dụng như tiếp thị cho bài nói chuyện hoặc phiên tư vấn với chi phí cao.

QUI MÔ CỦA NỀN KINH TẾ MIỄN PHÍ

Miễn phí đâu phải là tiền bạc

Bỏ qua việc sử dụng miễn phí như một mẹo tiếp thị, miễn phí bao trùm toàn bộ nền kinh tế. Hãy điểm qua một vài dạng miễn phí: Toàn bộ nội dung và dịch vụ trực tuyến và phi trực tuyến có quảng cáo tài trợ tại Hoa Kỳ ước từ 80 đến 100 tỷ dollar; loại hình một vài khách hàng có trả tiền trợ giá cho khách hàng miễn phí ước khoảng 800 triệu dollar vào 2008; thị trường trò chơi không thường xuyên có giá trị khoảng 3 tỷ dollar; nền kinh tế quà tặng không thể ước lượng giá chính xác... Tóm lại, miễn phí của một nền kinh tế quốc gia không hề nhỏ.

KINH TẾ HỌC MIỄN PHÍ VÀ THẾ GIỚI MIỄN PHÍ

Econ 000

Năm 1838, Antoine Cournot xuất bản quyền Rechers. Trong đó nói rằng, nếu một nhà máy sản xuất đĩa và một công ty khác cũng muốn mở ra nhà máy sản xuất đĩa thì hai công ty này sẽ điều chỉnh sản lượng để giữ giá bán càng cao càng tốt. Quyển sách của ông không được đánh giá cao.

Sau này Bertrand nhận định khác hơn, thay vì hạn chế sản lượng để tăng giá và lợi nhuận, các công ty sẽ giảm giá để tăng thị phần. Bertrand nói: “Trong một thị trường cạnh tranh, giá sẽ giảm xuống bằng với chi phí biên”.

Sau này các nhà kinh tế học mới kết luận rằng: các thị trường thừa thãi có thể dễ dàng tăng sản lượng, giá cả thường xuống bằng chi phí biên.

Nếu qui luật là “giá giảm xuống mức chi phí biên" thì miễn phí không còn là một phương án, nó là điều kết thúc không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, yếu tố quyết định giá cả không phải chỉ là chi phí biên mà là lợi ích biên”.

Độc quyền không còn như xưa nữa

Mô hình của Bertrand chỉ nhắm tới chi phí vật chất. Trong ngành sản xuất phần mềm và nhiều ngành khác nữa, giá trị của sản phẩm hầu hết nằm ở mặt trí tuệ và ngành công nghiệp này hưởng lợi từ cái gọi là “lợi nhuận gia tăng”. Chiến lược bóp chết cạnh tranh không còn hiệu quả như trước nữa, tệ sao chép đã trở nên phổ biến. Ở bất kỳ thị trường nào thì miễn phí luôn là điều hấp dẫn, nhưng kiếm được tiền từ miễn phí là vấn đề của tư duy, sáng tạo và thử nghiệm liên tục.

Miễn phí chỉ là một phiên bản khác

Ý tưởng cơ bản đằng sau việc tạo ra các phiên bản là bán sản phẩm giống nhau cho khách hàng khác nhau ở các mức giá khác nhau. Vào giờ vàng, người ta bán bia với giá rẻ hy vọng rằng một số khách hàng sẽ ngồi lại và tiếp tục uống khi bia được bán với giá bình thường.

Những kẻ bám càng không còn là mối bận tâm

Nếu hỏi liệu Wikipedia có sống sót được không? Người ta sẽ trả lời: “Không được, vì không có lợi nhuận. Ai cũng muốn hưởng mà không phải đóng góp. Họ sẽ dùng nếu nó có, những sẽ không ai tạo ra nó bởi vì vấn đề bám càng (xài chùa)”.

Trong môi trường trực tuyến, chỉ cần 1% người tham gia đóng góp, số đông người tiêu dùng thụ động chính là phần thưởng cho những người đóng góp, chứ không còn là vấn nạn. Số lượng độc giả khổng lồ là một trong những điều có sức thuyết phục nhất để một người quyết định trở thành biên tập viên cho Wikipedia.

CÁC KHU VỰC KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG

“Mọi sự thừa thãi đều tạo ra một khan hiếm mới”. Chúng ta có khuynh hướng coi trọng những thứ chúng ta không thật dồi dào. Nhưng khát vọng của loài người sẽ ra sao nếu có thật nhiều bánh mì và dạ dày của hắn luôn được chèn chặt? Câu trả lời là “lập tức các nhu cầu khác (cao hơn) xuất hiện và chúng chế ngự cơ thể thay cho những cơn đói sinh lý”.

Một khi nỗi khát khao thông tin và giải trí cơ bản đã được thỏa mãn, người tiêu dùng thụ động biến thành người sản xuất chủ động.

Trong môi trường trực tuyến, sản phẩm được mã hóa thành phần mềm, mời gọi sử dụng miễn phí thì tiền bạc không còn là tín hiệu quan trọng nhất nữa. Thay vào đó, hai yếu tố phi tiền tệ nổi lên thế chỗ là “nền kinh tế của sự quan tâm” và “nền kinh tế của danh tiếng”. Điều gì định nghĩa một “nền kinh tế”? Khái niệm dùng hiện nay là “khoa học về lựa chọn trong điều kiện khan hiếm”.

Ngày nay khi bạn kết nối với ai đó qua blog của mình thực tế bạn đã cho họ một ít danh tiếng của mình, sự chuyển giao danh tiếng này làm hai bên giàu có hơn. Có một thị trường danh tiếng thực sự - đó là Google. Đơn vị tiền tệ của danh tiếng trên môi trường trực tuyến chính là số lượng kết nối đến trang web. Và còn gì đo lường mức độ quan tâm tốt hơn là chỉ số về độ tấp nập của web?

Nền kinh tế quà tặng

Kinh tế quà tặng trở nên sống động và có thể đo đếm được khi nó xuất hiện trên môi trường trực tuyến dưới hình thức các hành vi, điều ta làm cho người khác mà không yêu cầu được đền đáp. Nguyên nhân không hẳn do bản tính vị tha. Lòng vị kỷ được thấu triệt là động lực mạnh mẽ nhất của nhân loại. Người ta làm việc miễn phí có thể vì nhiều lý do: cho vui, có điều gì đó cần thể hiện, muốn được người khác quan tâm, để phát triển cá nhân, vì cộng đồng. Nghĩa là khi người ta cảm thấy là một phần của cộng đồng và muốn cống hiến cho sự tồn tại và phát triển của nó.

(ĐÔI KHI) LÃNG PHÍ LÀ HAY

Khi tự nhiên phung phí sự sống

Bộ não chúng ta dường như được lập trình để cưỡng lại lãng phí. Chúng ta quan tâm bảo vệ từng hậu duệ của mình, chúng ta áy náy với một món đồ chơi không thích hoặc thức ăn không dùng hết.
Tuy nhiên, phần còn lại của tự nhiên không như vậy. Một con cá ngừ đại dương có thể phát tán mười triệu trứng đã thụ tinh trong mùa đẻ trứng, có lẽ chỉ mười con sống đến lúc trưởng thành. Một triệu con chết mới có một con sống. Thiên nhiên phí phạm sự sống để có cuộc sống tốt hơn. Nguyên nhân tự nhiên lãng phí như vậy là vì chiến lược tàn sát là cách tốt nhất để làm điều mà các nhà toán học gọi là “khảo sát toàn bộ không gian tiềm năng”. Đó là cách chấp nhận lãng phí. Vứt đi quá nhiều có vẻ không hay, thậm chí quái lạ, nhưng đó là cách thích hợp để tận dụng sự thừa thãi.

Video về mèo cũng có chỗ của nó

Người ta thường kêu ca rằng Youtube không phải là mối đe dọa đối với truyền hình vì trên đó toàn những thứ “rác rưởi”. Rác rưởi hay không là trong con mắt của người xem. Tất cả các đoạn phim ngẫu nhiên trên Youtube chính là các hạt của hoa bồ công anh bay trong không gian và tìm kiếm một mảnh đất màu mỡ để đáp xuống. Theo cách nhìn đó, chúng ta đang “phung phí video” để tìm ra đoạn video tốt hơn, khám phá cái không gian tiềm tàng trong phim ảnh. Điều này dẫn đến sự khác biệt giữa lối tư duy về thừa thãi và khan hiếm.

Quản lý sự khan hiếm

Mô hình Youtube là hoàn toàn miễn phí, nhưng nó không làm ra tiền. Huhu thì cho xem miễn phí và bạn phải trả giá theo cách cổ điển khi xem các đoạn quảng cáo, dù bạn muốn hay không. Tuy nhiên, nó lại tạo ra doanh thu khá. Hai trường hợp này minh họa sự đối đầu giữa các mô hình miễn phí thực sự trăm phần trăm, nhưng chút khan hiếm giả tạo lại là cách làm ra tiền tốt nhất.

THẾ GIỚI MIỄN PHÍ

Trung Quốc là chốn miễn phí tung hoành

Trung Quốc là nơi vấn đề vi phạm tác quyền thắng thế. Hàng năm qua, các cuộc truy quét thiếu nhiệt tình dưới sức ép ngoại giao của phương Tây không có một ảnh hưởng nào rõ rệt đối với những người bán hàng trên phố hay một số trang web. Ở Trung Quốc, bạn có thể có được hầu hết những thứ mình muốn mà chẳng mất tiền.

Thay vì chống lại nạn vi phạm tác quyền, thế hệ nhạc sĩ mới của Trung Quốc chấp nhận nó, vi phạm tác quyền là hình thức tiếp thị miễn phí, nhờ nó mà họ nổi tiếng và họ chuyển sự nổi tiếng thành tiền thế nào tùy ý. Sản phẩm vi phạm tác quyền ước tính chiếm đến 95% mức tiêu thụ ở Trung Quốc.

Nền kinh tế của nước hoa Chanel nhái

Hàng nhái và vô số đồ công nghệ giả liệu nhan nhản trong các cửa hàng, đường phố Trung Quốc. Như vậy, quyền sở hữu trí tuệ được miễn phí, bạn chỉ phải trả tiền (rất rẻ) cho các nguyên tử vật chất. Gốc rễ và hậu quả của việc vi phạm tác quyền lại sâu sắc hơn vẻ bề ngoài. Cái túi Gucci nhái vẫn thể hiện như một túi Gucci thật và nó hiện diện khắp nơi. Hệ quả có hai mặt: “tác động thay thế” - tiêu cực và “tác động kích thích” - tích cực. Người tiêu dùng hiểu rõ sự khác biệt giữa hàng thật và hàng nhái, và sẽ chọn hàng thật khi họ đủ tiền. Một phụ nữ trẻ nhận định: “Nếu bạn mặc thật nhiều hàng nhái hoặc có nhiều túi xách hàng giả, những người bạn của bạn sẽ biết, do đó bạn chẳng lừa được ai cả. Thế thì mua hàng thật còn hơn”.

Vi phạm tác quyền không hủy diệt thị trường, nó kích thích thị trường bùng nổ phục vụ làn sóng người tiêu dùng trung lưu đang xuất hiện. Hai sản phẩm, thật và giả, đơn giản là nhằm vào các phân khúc thị trường khác nhau.

Quyền lực của những người bán rong Brazil

Giống như ở Trung Quốc, trên các đường phố Brazil, những người bán hàng rong giới thiệu những đĩa CD không phải là hàng chính thức của một hãng đĩa nổi tiếng nào mà là những sản phẩm do nhóm họ sản xuất, tuy nhiên, lại hợp pháp.

Khi có buổi biểu diễn của một ca sĩ hoặc ban nhạc nổi tiếng nào đó đến địa phương, thì những người bán hàng rong là nhóm tiền trạm, tiếp thị, tổ chức, quảng cáo đầu tiên. Họ ghi hình, sản xuất đĩa CD, DVD bán ngay tại chỗ. Chín mươi phần trăm số ban nhạc không có hợp đồng ghi âm và cũng không đầu quân cho nhãn đĩa nào cả, họ không cần điều đó. Cho người khác nhạc của mình miễn phí tạo ra một ngành kinh doanh lớn đến mức mô hình thu phí không thể nào đạt được.

HÌNH DUNG VỀ THỪA THÃI

Mọi tác giả tiểu thuyết khoa học viễn tưởng đều biết luật bất thành văn: bạn chỉ có thể phá vỡ những định luật vật lý một hoặc hai lần trong mỗi câu chuyện. Triết thuyết khoa học viễn tưởng là thứ mà nhà văn Clive Thompson gọi là “cứ điểm cuối cùng của triết lý”. Tình yêu sẽ thay đổi ra sao nếu chúng ta sống đến 500 tuổi? Nếu chúng ta có thể du hành trở về quá khứ để đảo ngược những quyết định trước đây, bạn có làm không? Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn đối đầu nói chuyện hoặc giết chết Thượng đế? Khi máy móc làm hết mọi việc, điều gì là động lực của chúng ta? Khan hiếm khi kết thúc sẽ làm chúng ta lười nhác, suy đồi, ngu ngốc và tầm thường.

Tôn giáo là lĩnh vực có những ví dụ vĩ đại nhất về các tình thế cực đoan do thừa thãi hoặc khan hiếm tạo ra. Thiên đường là hình ảnh tuyệt vời về thừa thãi: Thiên thần lướt trên những đám mây mịn màng, chơi đàn hạc và không màng đến nhu cầu về vật chất; người chết trở nên thanh khiết, huy hoàng và hoàn hảo; mọi khiếm khuyết về cơ thể được rũ bỏ… Phải chăng kết cuộc không thể tránh khỏi là khi khan hiếm biến mất thì động lực cũng bị triệt tiêu?

Về mặt kinh tế, thừa thãi là động lực cho đổi mới và tăng trưởng. Nhưng về mặt tâm lý, khan hiếm chính là thứ chúng ta thực sự thấu hiểu.

TIỀN NÀO CỦA NẤY

Những nghi ngờ về miễn phí

Mười bốn điều phản bác lại kinh tế dựa trên miễn phí thường nghe nhất:

1. Làm gì có bữa trưa miễn phí: Quan niệm này khẳng định một cá nhân hay một xã hội không thể nhận được thứ gì đó mà không phải trả tiền. Kinh tế học ít nhất ở dạng lý tưởng, tuân theo qui luật bảo toàn vật chất: có vào thì phải có ra.

2. Miễn phí luôn đi kèm với những chi phí ẩn/miễn phí là một trò lừa đảo. Miễn phí đôi khi có ràng buộc. Hình ảnh quảng cáo làm trong web trở nên bừa bộn, chúng ta bị mồi chài rồi trở thành khách hàng trả tiền. Thực tế: Miễn phí của thế kỷ XXI cũng tốt như thu phí, hoặc tốt hơn nữa: không lừa, không bẫy, không ràng buộc.

3. Internet không thực sự là miễn phí vì bạn phải trả phí truy cập. Đây là một nhầm lẫn phổ biến. Hàng tháng chúng ta phải trả một món tiền để truy cập internet. Thực tế, số tiền này trả cho hạ tầng truyền dẫn, nó chẳng liên quan gì đến những thứ được truyền đi trên hạ tầng đó.

4. Miễn phí chỉ là trò quảng cáo. Thực tế: Thị trường phần mềm dùng thử miễn phí và trả phí để dùng phiên bản hoàn chỉnh đã tồn tại hàng thập kỷ, không dựa vào quảng cáo.

5. Miễn phí nghĩa là phải chịu quảng cáo nhiều hơn, cũng có nghĩa là tính riêng tư giảm xuống. Thực tế, hầu hết các trang web do quảng cáo dẫn dắt đều có chính sách đảm bảo sự riêng tư, ngăn cấm chuyển thông tin về người sử dụng cho người đăng quảng cáo.

6. Không chi phí = vô giá trị. Người ta cho rằng tiền là cách duy nhất đo lường giá trị. Nhưng người ta dựng trang web chủ yếu dựa trên hai đơn vị phi tiền tệ là sự quan tâm và danh tiếng. Cả hai có được là nhờ các nội dung và dịch vụ miễn phí.

7. Miễn phí hủy hoại cách tân. Người ta cho rằng miễn phí vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, nên người ta sẽ chẳng muốn sáng tạo nếu chẳng được gì. Giai đoạn bảo hộ sáng chế kéo dài 17 năm. Nhưng khi thời kỳ bảo hộ đã qua, sản phẩm trí tuệ đó trở thành thứ miễn phí.

8. Đại dương cạn kiệt, nhà vệ sinh công cộng tởm lợm và trái đất nóng lên là cái giá thực sự của miễn phí. Trong thế giới của các bit thông tin, chi phí môi trường còn lâu mới là vấn đề quan trọng. Hoang phí về năng lượng xử lý, lưu trữ và băng thông về cơ bản sẽ qui về chi phí điện năng. Nhưng cuối cùng họ đã đặt các trung tâm dữ liệu gần nguồn năng lượng mặt trời, phong điện và địa nhiệt năng để đảm bảo không gây hậu quả môi trường như các nguyên tử vật chất phí phạm.

9. Miễn phí sẽ khuyến khích chuyện vi phạm bản quyền. Ngược lại, chính vi phạm bản quyền thúc đẩy miễn phí.

10. Miễn phí nuôi dưỡng một thế hệ không trân trọng bất cứ điều gì. Thực tế, giới trẻ có thể phân biệt được giữa thực và ảo, và chúng ứng xử khác biệt phù hợp trong từng hoàn cảnh.

11. Không thể địch lại miễn phí. Thực tế, chúng ta có thể dễ dàng cạnh tranh với miễn phí, đơn giản là đưa ra được sản phẩm tốt hơn hay chí ít là khác biệt so với phiên bản miễn phí.

12. Cho không sản phẩm của mình mà chẳng kiếm được tiền. Trường hợp Paulo Coelho, ông đưa tác phẩm nổi tiếng của mình lên dịch vụ trao đổi tập tin ngang hàng miễn phí như Bit Torrent. Nhờ vậy ông bán được rất nhiều sách .

13. Miễn phí chỉ tuyệt diệu nếu có ai đó đang trả tiền. Thực tế, người khác trả tiền, nhưng họ trả tiền cho phiên bản cao cấp so với phiên bản bạn nhận được miễn phí.

14. Miễn phí hy sinh chất lượng. Nếu nhà báo chuyên nghiệp chứng kiến công việc của mình biến mất thì họ phải sáng tạo lại chính mình một cách mạnh mẽ hơn, từ đó có thể xuất hiện nhiều nhà báo hơn chứ không phải ít đi vì khả năng tham gia làm báo đã mở rộng ra ngoài. Báo chí chuyên nghiệp sẽ chia sẻ sân chơi với loại hình báo chí như thú tiêu khiển.

KẾT

Năm 2001, thị trường chứng khoán sụp đổ. Một vài năm sau thị trường hồi phục và chúng ta nhìn lại, chúng ta ngạc nhiên phát hiện rằng trên thực tế không thể tìm thấy ảnh hưởng của sự sụp đổ ấy đối với sự phát triển của internet, nó còn vẫn tiếp tục vươn rộng giống hệt trước đây. Web vẫn có tầm quan trọng như dự báo của những người lạc quan nhất. Chỉ có điều nó mất nhiều thời gian hơn để đạt được tới tầm vóc mà thị trường chứng khoán tính toán. Từ góc nhìn của người tiêu dùng, miễn phí hấp dẫn hơn nhiều trong một nền kinh tế đi xuống.

Miễn phí vẫn có tác động lên tâm lý người dùng. Nhưng miễn phí không thôi chưa đủ. Nó cần phải được song hành với “trả tiền”. Tương tự như con dao cạo miễn phí của King Gillette chỉ có nghĩa kinh tế khi đi cùng với lưỡi dao đắt tiền. Các nhà kinh doanh trên web ngày nay cũng phải tạo ra không chỉ sản phẩm người ta ưa chuộng mà còn có cả sản phẩm người ta sẽ trả tiền để mua. Miễn phí có thể là mức giá tốt nhất, nhưng nó không thể là mức giá duy nhất.
Nhượng Quyền Việt Nam

10 quyết định kinh doanh khôn ngoan nhất mọi thời đại

Những quyết sách của người làm kinh doanh dưới đây được cho là những quyết định kinh doanh khôn ngoan nhất mọi thời đại.

Puma trả 120.000 USD cho một lần buộc dây giày của Pelé

Thập niên 60 của thế kỷ XX, "cuộc chiến giày thể thao" giữa hai thương hiệu Puma và Adidas diễn ra căng thẳng đến mức đôi bên phải đưa ra "Hiệp ước Pelé" - cấm sử dụng hình ảnh của Vua bóng đá Pelé để quảng bá sản phẩm của mình.


Theo LA Times, tại World Cup 1970, đại diện của Puma lúc đó là Hans Henningsen đã tiếp cận với Pelé. Trước khi trận chung kết diễn ra, Pelé đã xin phép trọng tài cho ông buộc lại dây giày. Và cả thế giới đã biết Pelé đi giày hiệu Puma.

Henry Ford và quyết định "không giống ai"
Những năm đầu thế kỷ XX, ở các nước công nghiệp, chuyện công nhân thay đổi chỗ làm rất thường diễn ra. Để ngăn chặn sự mất ổn định trong đội ngũ người lao động, Henry Ford đã có một quyết định "không giống ai": tăng gấp đôi lương trong khi giảm bớt một giờ làm mỗi ngày cho người lao động.

Quyết định này không những không gây thiệt cho công ty mà còn mang về lợi ích gấp nhiều lần: giữ chân người tài, giảm chi phí đào tạo, năng suất lao động cũng như chất lượng sản phẩm tăng cao do công nhân không cảm thấy bị áp lực, uy tín thương hiệu cũng được gia tăng. Từ đây, một tầng lớp trung lưu mới cũng hình thành, chủ yếu là các công nhân đủ tiền mua xe của Ford.

Porsche kiếm khoảng 40 triệu euro nhờ tin đồn
Năm 2006, hãng xe thể thao Porsche đã bỏ tiền mua một lượng lớn cổ phiếu của Volkswagen, không phải do ý định thâu tóm Volkswagen, mà chỉ từ mối quan hệ cá nhân. Nhưng thiên hạ thì đồn rằng Porsche sẽ mua Volkswagen, thị trường đã "dậy sóng" khi các nhà quản lý quỹ đầu cơ đua nhau mua cổ phiếu Volkswagen. Giá trị công ty nhờ đó tăng vọt và nhanh chóng được xếp vào hàng một trong những doanh nghiệp đắt giá nhất thế giới. Porsche đã kiếm được khoảng 30-40 triệu euro từ quyết định này.

Herber Dow bán rẻ để thu lời lớn
Sau khi tìm ra phương pháp rẻ tiền để sản xuất brom, Herbert Dow sáng lập công ty hóa chất Dow Chemical. Dow Chemical khá phát triển ở Mỹ, nhưng không thể bước chân vào thị trường châu Âu vì nơi đây đã bị một liên minh khổng lồ của Đức nắm giá.

Quyết định đi "đường tắt", Herbert vào thị trường Anh, dùng giá thấp để buộc đối thủ phải bán tháo hàng sang Mỹ. Cùng lúc, Dow dừng bán hàng tại quê hương, mua lại toàn bộ số brom mà liên minh Đức bán ra tại đây, sau đó đem về châu Âu bán với giá của họ.

Chiến lược này đã giúp Herbert đánh gục đối thủ và trở thành kế sách chống lại độc quyền mới trong kinh doanh.

Sara Blakely và cách giới thiệu sản phẩm đặc biệt
Thương hiệu đồ lót Spanx là do Sara Blakely sáng lập. Người phụ nữ trẻ này rất tự tin về sự khác biệt của sản phẩm của mình. Nhưng khi mới tiếp cận thị trường, cô đã bị hàng loạt nhà sản xuất cũng như khách hàng từ chối.

Rồi, Sara đã nghĩ ra một cách để giới thiệu sản phẩm: nhờ một người khách đi mua sắm tại Trung tâm thương mại Neiman Marcus thử sản phẩm của mình. Không lâu sau đó, show truyền hình Oprah Winfrey đã làm riêng một chương trình về Spanx, và từ đó thương hiệu này đã nổi tiếng. Sara tự mình làm các công việc từ tiếp thị, hậu cần cho đến định vị sản phẩm, cho đến khi công ty đạt mốc lợi nhuận 1 tỷ USD.

Blakely sở hữu 100% Spanx, không hề vay nợ, chưa từng đầu tư thêm và cũng chưa phải trả một đồng nào cho quảng cáo.

Steve Jobs: Khác biệt từ chiếc tai nghe màu trắng
Trước khi iPod ra đời vào năm 2001, các loại tai nghe nhạc chỉ có 2 màu chủ đạo là xám sẫm hoặc đen. Mọi thứ thay đổi khi Jobs và đồng nghiệp ra mắt sản phẩm "thay đổi cuộc chơi" với chiếc iPod vỏ trắng, đặc biệt là tai nghe cùng màu.

Máy nghe nhạc của Apple trở thành sản phẩm duy nhất sở hữu tai nghe màu trắng. Sau đó, Apple có cả một chiến dịch quảng cáo chỉ tập trung vào mẫu tai nghe màu trắng. Thiết kế đặc biệt này được phát huy cho dòng điện thoại iPhone đang hết sức thành công.

Oakley Sunglasses: Chi 6.300 USD, lợi gần 41 triệu USD
Trong thảm họa sập hầm mỏ tại Chile năm 2010, hãng kính Oakley đã tặng 35 cặp kính râm cho các thợ mỏ để mắt họ được an toàn khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời sau 69 ngày bị mắc kẹt trong bóng tối. Mỗi cặp trị giá 180 USD.

Theo CNBC, toàn bộ thời gian giải cứu có xuất hiện kính của Oakley tương đương 41 triệu USD tiền quảng cáo được cả tỷ người trên thế giới theo dõi.

Robert Taylor: Chặn nguồn cung của đối thủ
Vào những năm 70 của thế kỷ XX, sản phẩm xà phòng nước mới có trên thị trường và được bán ra bởi một công ty nhỏ có tên Minnetonka. Sản phẩm nhanh chóng được người tiêu dùng ưa chuộng, nên Minnetonka quyết định mở rộng quy mô. Quyết định của Minnetonka khiến các doanh nghiệp lớn để ý, họ có nguy cơ mất thị trường vào tay các đối thủ có lợi thế về phân phối và quảng cáo.Robert Taylor, ông chủ của Minnetonka lúc bấy giờ đã chi 12 triệu USD - một số tiền lớn gấp nhiều lần thị giá công ty - để mua lại hết sản lượng trong 1 đến 2 năm của các nhà máy sản xuất bơm nhựa - loại phụ kiện để dùng cho xà phòng nước. Thương vụ đã tiệt đường làm ăn của các ông lớn, giúp Taylor nắm được thị phần lớn trong tay. Sau này công ty đã được Hãng Colgate Palmolive danh tiếng mua lại.

Coca-Cola: "Thắt eo" cho bao bì
Năm 1915, Coca-Cola phát động cuộc thi thiết kế chai với mục đích tạo ra loại chai thủy tinh không thể nhầm lẫn.

Thiết kế của Earl R. Dean - với dáng "thắt eo" giúp có thể dễ dàng được nhận dạng ngay cả trong bóng tối - đã được ghi tên vào lịch sử của Coca-Cola và được đăng ký bản quyền vào năm 1916.

Bill Gates: Khai mở thị trường phần mềm
Khoảng năm 1980, IBM thuê Bill Gates viết hệ điều hành riêng cho máy tính của họ. Bill đã mua bản quyền hệ điều hành QDOS của Tim Patterson với giá 50.000 USD, thay đổi trên nền đó, rồi đặt tên là MS-DOS và bán lại cho IBM.

Sau đó, Gates đã thuyết phục IBM cho ông bán phần mềm này ra thị trường. IBM đồng ý, bởi cho rằng tiền chỉ đến từ phần cứng. Rồi khi các công ty đua nhau sản xuất máy tính mang thương hiệu riêng, MS-DOS trở thành tiêu chuẩn và "chắp cánh" cho Microsoft.

Theo Buisiness Insider /DNSG