Showing posts with label quản trị kinh doanh. Show all posts
Showing posts with label quản trị kinh doanh. Show all posts

Sunday, April 19, 2015

Giám đốc tự cắt lương 90% để tăng thu nhập cho nhân viên

Để nâng lương nhân viên lên tối thiểu 70.000 USD, CEO một hãng công nghệ đã tự hạ mức lương "triệu đô" của mình.

Dan Price tại công ty Gravity Paymenst. Ảnh: Geek Wire
Câu chuyện bất bình đẳng thu nhập đã khiến Dan Price - CEO Gravity Payments tại Seattle suy nghĩ suốt nhiều tháng qua. Tuy nhiên, khi đi leo núi với một người bạn và nghe cô than thở về khó khăn khi tiền thuê nhà tăng, Price mới nhận thấy mình cần làm điều gì đó cho các nhân viên.

Sau khi về, anh đã quyết định nâng lương cho toàn bộ 120 người trong công ty, lên tối thiểu 70.000 USD. Lương trung bình hiện tại của họ là 48.000 USD. Trong 70 người thuộc diện nâng lương, khoảng 30 người sẽ được tăng gấp đôi.


Phần lớn số tiền này đến từ khoản lương bị giảm của Price - từ một triệu USD xuống 70.000 USD một năm. Phần còn lại sẽ được lấy từ 2,2 triệu USD lợi nhuận công ty dự kiến đạt được năm nay.
"Bất bình đẳng thu nhập ngày nay lớn hơn nhiều thời Đại suy thoái. Tôi đã nghĩ về việc này và cho rằng: 'Đã đến lúc rồi. Mình không thể chịu được nếu trì hoãn thêm ngày nào nữa'", Price cho biết.

Việc giảm lương sẽ không ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của Price. Anh đã tiết kiệm được kha khá sau khi thành lập Gravity năm 2004. Anh không có kế hoạch thay chiếc Audi đã 12 tuổi và mức lương mới cũng vẫn cho phép tụ tập bạn bè tại bar mỗi tháng một lần.

"Dĩ nhiên có nhiều thứ sẽ phải hy sinh. Nhưng khi lợi nhuận công ty quay lại 2,2 triệu USD, lương của tôi cũng sẽ nhích lên thôi. Đó cũng là động lực tốt", anh nói.

Theo một báo cáo của Trường Kinh doanh Harvard năm ngoái, lương trung bình của CEO Mỹ thường gấp hơn 350 lần nhân viên. Seattle cũng đang trở thành tâm điểm chú ý khi chính quyền thành phố quyết định nâng lương tối thiểu lên 15 USD một giờ vào tháng 6 tới.

Price không coi hành động của mình là làm từ thiện cho nhân viên. Thay vào đó, đây thực chất là một khoản đầu tư. Trên lý thuyết, các nhân viên được thúc đẩy bằng lương cao sẽ làm việc tốt hơn và quan tâm đến khách hàng hơn. "Đây là giải pháp cho vấn đề xã hội. Tôi thực sự cho rằng nó sẽ có kết quả tốt thôi", anh nói.

Hà Thu(theo Huffington Post)/Vnexpress

3 nguyên tắc tuyển dụng của Richard Branson

Trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Inc., Richard Branson - một trong những tỷ phú hàng đầu thế giới, chủ tịch của tập đoàn nổi tiếng Virgin Group - nói: “Tôi đặt nhân viên lên hàng đầu, khách hàng thứ hai và các cổ đông ở vị trí thứ ba”. 

Quan điểm ấy còn được thể hiện trong một cuốn sách của Branson được xuất bản tháng 9 năm ngoái có tựa đề “The Virgin Way: Everything I Know About Leadership” (tạm dịch: Bí quyết lãnh đạo theo cách của Virgin), trong đó ông đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng một môi trường văn hóa doanh nghiệp thân thiện và những bí quyết để thu hút những nhân tài giỏi nhất.

Dưới đây là 3 nguyên tắc của Brandson trong tuyển dụng nhân tài.

1. Tham gia trực tiếp vào quá trình tuyển dụng

Không nên chỉ giao phó cho bộ phận nhân sự thực hiện mọi việc trong quá trình tuyển dụng, Branson khuyên các nhà lãnh đạo doanh nghiệp nên tham gia trực tiếp vào quá trình này, nhất là đối với các quyết định tuyển dụng nhân sự cao cấp, ngay cả khi việc này đòi hỏi nhà lãnh đạo phải di chuyển đến những vùng xa xôi để gặp gỡ ứng viên.

Ngoài ra, Branson sẵn sàng tuyển dụng những nhân tài có thế mạnh ở những lĩnh vực mà ông không phải là người giỏi. Branson khuyên các nhà lãnh đạo doanh nghiệp nên tự đánh giá những phương diện mà mình khó có thể hoàn thiện và mời những người giỏi ở những mặt này cùng làm việc với mình.

2. Chú trọng tính cách hơn quá trình làm việc

Theo Branson, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp không nên quá chú trọng đến kinh nghiệm làm việc trong quá khứ của ứng viên và chỉ dựa trên lý lịch làm việc (resume) để ra quyết định tuyển dụng. Branson cho rằng một doanh nghiệp mạnh, có thể đi đầu trong những giải pháp sáng tạo đòi hỏi phải có một đội ngũ nhân sự đa dạng về năng lực và tính cách, có kinh nghiệm từ nhiều lĩnh vực khác nhau.

Virgin đã từng thực hiện những cuộc phỏng vấn nhóm, trong đó các ứng viên được yêu cầu chơi các trò chơi cùng với nhau. Giải thích cho cách làm này, Branson nói: “Mục đích là để các ứng viên được bộc lộ cá tính của họ thông qua những tình huống của đời thực. Chúng tôi muốn tuyển dụng những nhân viên có thể làm việc vui vẻ với khách hàng, những điều mà các doanh nghiệp không dễ gì phát hiện được khi chỉ đọc qua các bản lý lịch làm việc (CV) và đặt ra các câu hỏi ở một cuộc phỏng vấn”.
Đôi khi, trong quá trình phỏng vấn, nếu ứng viên tỏ ra lo lắng hay lúng túng, Branson sẽ đề nghị họ kể một câu chuyện vui. Tác giả cho rằng, đó chính là một cách “phá băng” rất hiệu quả và tạo điều kiện để ứng viên thể hiện những cá tính của mình.

đào tạo nhân sự doanhnhansaigon

3. Cẩn thận với những ứng viên cho rằng họ có thể đảm nhận nhiều nhiệm vụ khác nhau
Các chủ doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp mới thành lập và chưa có một cấu trúc tổ rõ ràng, thường có khuynh hướng muốn tuyển dụng những ứng viên đa năng, có thể đảm nhận nhiều vị trí, vai trò khác nhau để cùng họ phát triển công ty trong giai đoạn đầu.

Tuy nhiên, Branson khuyên cần phải tìm hiểu kỹ thật sự ứng viên có thể làm được như thế hay không. Trên thực tế, có rất nhiều ứng viên là các giám đốc trước đây chỉ làm việc trong một tổ chức có cấu trúc chặt chẽ và chỉ quen làm việc ở một bộ phận chức năng hẹp nên khó có thể đảm nhận những vị trí đa năng ở một công ty mới thành lập.

Thursday, April 16, 2015

[Khởi nghiệp] Học những điều tối quan trọng qua 10 hình vẽ đơn giản

Nếu đây là lần đầu tiên bạn khởi nghiệp hoặc bắt đầu kinh doanh một lĩnh vực hoàn toàn mới, hãy khởi đầu nhỏ thôi và thận trọng trong các quyết định của bạn, đặc biệt là những quyết định có liên quan tới tài chính.

1. Quan trọng không phải là ý tưởng của bạn tuyệt vời ra sao, mà việc thực thi ý tưởng đó như thế nào
Mọi người đều có thể nghĩ ra được những ý tưởng hay. Thế giới này không hề thiếu những ý tưởng tuyệt vời. Điểm cộng nếu như bạn đã có sẵn một vài ý tưởng độc đáo nhất định. Nhưng quan trọng hơn, bạn sẽ thực thi ý tưởng của bạn ra sao.
Thành công của bạn phải là sự hiện thực hóa ý tưởng với kết quả khả quan và đem lại tác dụng nhất định cho mọi người xung quanh, cho cộng đồng. Việc thực thi thành công, hiệu quả những ý tưởng không hề mới mẻ cũng là thành công!

2. Bạn hãy khởi đầu nhỏ, luôn thử thị trường và rồi điều chỉnh để lớn mạnh
Nếu đây là lần đầu tiên bạn khởi nghiệp hoặc bắt đầu kinh doanh một lĩnh vực hoàn toàn mới, hãy khởi đầu nhỏ thôi và thận trọng trong các quyết định của bạn, đặc biệt là những quyết định có liên quan tới tài chính.

Trong thời đại hiện nay, bạn luôn có thể thử thị trường bằng những món tiền nho nhỏ trước khi vung vít một số tiền khá lớn đầu tư vào xây dựng hoặc quảng bá một sản phẩm/ dịch vụ mà bạn không biết chắc liệu mọi người có đón nhận chúng hay không.

Hãy ghi nhớ hình ảnh cây sồi lớn mạnh, rắn chắc theo năm tháng nhưng mọc lên chỉ bằng một trái đầu mùa con con.

3. Website tạo nên “bộ mặt” đẹp trai, xinh gái của mô hình kinh doanh
Nhờ có sự phát triển của mạng lưới Internet, việc có một website có tác dụng như đem lại bộ mặt cho mô hình kinh doanh của bạn. Bạn không nhất thiết phải có một trang web hoàn hảo, đẹp long lanh. Tất cả những gì bạn cần chỉ là một trang web sáng sủa, bắt mắt và nếu kích thích được khách mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ của bạn thì càng tốt.

Hiện nay, chi phí tạo dựng một website cũng không còn quá đắt đỏ. Bạn cũng có thể đầu tư thêm trang thanh toán trực tiếp trên web nếu kinh phí của bạn cho phép.

4. Kinh Doanh Thực Ra Rất Đơn Giản
Bản chất của kinh doanh thực ra chỉ là việc (i) bạn có cung cấp một loại hàng hóa dịch vụ, (ii) một nhóm người sẵn sàng trả tiền để mua hàng hóa, dịch vụ của bạn và (iii) có một hệ thống thanh toán.
Như vậy, việc bạn cần duy trì là hàng hóa, dịch vụ đủ điều kiện để luôn có một nhóm người sẵn sàng trả tiền nhằm đổi lấy hàng hóa, dịch vụ của bạn và tiền được đưa tới bạn thông qua hệ thống thanh toán (việc đưa tiền mặt cũng là một hệ thống thanh toán, nhưng kiểu đơn giản!)

5. Mọi người đều NGHIỆN sự tiện lợi
Tất cả mọi người đều yêu thích, bị thu hút và muốn gắn liền với sự tiện lợi. Khách hàng thường có xu hướng lựa chọn những giải pháp đơn giản và dễ thực hiện nhất. Mang đến sự tiện lợi cho khách hàng, thành công của bạn sẽ được đảm bảo.

Do đó, bạn cần đặc biệt chú ý tới phương thức thanh toán (tiền chỉ còn cách tài khoản của bạn vài giây thanh khoản thôi!). Việc thanh toán càng đơn giản và linh hoạt, khách hàng càng dễ bỏ tiền ra cho bạn.

6. Khách hàng bỏ tiền ra để mua giá trị
Dù bạn muốn tin hay không, khách hàng bỏ tiền ra trao đổi lấy hàng hóa, dịch vụ của bạn bởi vì họ muốn có một hoặc vài giá trị nhất định.

Nói sâu xa, bạn đang mang tới cho khách hàng giá trị để nhận về một khoản tiền. Hãy đặt mình vào vị trí của khách hàng để suy nghĩ, rằng với giá trị tôi nhận được nhu vậy thì khoản tiền tôi đã bỏ ra có xứng đáng hay không. Từ đó, bạn sẽ có thể vạch ra chiến lược kinh doanh tiếp theo.

7. Đừng Giảm Giá Mà Hãy Tăng Thêm Giá Trị
Có khi nào bạn tự hỏi vì sao có những sản phẩm hoặc dịch vụ giá cả không hề rẻ mà vẫn bán “chạy như tôm tươi”? Có khi nào bạn tự hỏi tại sao hai đối thủ cạnh tranh với nhau, người chiến thắng không phải là kẻ tung ra giá cả hàng hóa, dịch vụ rẻ nhất?

Câu trả lời chính là tổ hợp các giá trị mà khách hàng nhận được khi họ bỏ tiền ra mua sản phẩm, dịch vụ có giá cao hơn. Bằng sự thấu hiểu tâm lý khách hàng, các doanh nghiệp khôn ngoan ít khi giảm giá sản phẩm, dịch vụ của họ nhưng họ lại “cho khách hàng” nhiều hơn đối thủ, cho khách hàng nhiều hơn cả sự mong đợi của khách hàng. Vì thế, họ luôn nằm trong suy nghĩ của khách hàng đầu tiên ngay khi khách hàng muốn bỏ tiền để có được sản phẩm, dịch vụ nào đó.

8. Quản chặt chi phí và giữ cho chúng ở mức thấp nhất có thể
Khi bạn mới khởi nghiệp và đang dò dẫm những bước nhỏ trên thị trường, tiền mặt đối với bạn vô cùng quan trọng và nó quyết định sự sinh tồn của hoạt động kinh doanh.

Hãy chú tâm tới các chi phí và giữ chúng ở mức thấp nhất. Điều này sẽ khiến bạn có thể tồn tại được lâu dài hơn và vượt qua những khó khăn, trở ngại mà bạn không thể lường tính trước được.

9. Mọi hoạt động Marketing (tiếp thị) và Branding (xây dựng thương hiệu) đều phải dẫn đến việc bán được hàng và mang tiền về cho bạn
Việc này nghe có vẻ trần trụi nhưng nó là bí quyết để dẫn dắt bạn theo con đường kinh doanh tới cùng. Bỏ qua những ý tưởng và chiến dịch marketing khiến những giám đốc sáng tạo phải trầm trồ, trong giai đoạn khởi sự, bạn cần tranh thủ những kênh marketing và phương pháp branding miễn phí, rẻ nhưng hiệu quả để bắt buộc tăng được doanh thu thực tế.

Với mỗi kênh marketing bạn nên có thời gian đánh giá và chỉ số đo lường hiệu quả để có thể so sánh với các kênh marketing khác.

10. Cuối cùng, đừng nhầm lẫn giữa thành công với thời gian và nỗ lực mà bạn đã bỏ ra
Thành công đo đếm, xác định được bằng những kết quả tích cực cụ thể.

Việc bỏ ra bao nhiêu công sức, bao nhiêu thời gian, bao nhiêu tiền bạc không đảm bảo, cũng như không đồng nghĩa với thành công. Bạn có thể bỏ ra 5 năm và mỗi ngày làm việc cật lực 12 tiếng cùng với 50 ngàn đô la tiền đầu tư nhưng bạn có thể vẫn mất trắng và vẫn chẳng biết làm sao để mô hình kinh doanh của mình hoạt động.

Trên hết, bạn cần phải quyết định khôn ngoan, sắc bén, linh hoạt với thị trường để đạt những chuỗi kết quả tích cực cụ thể.
 Theo Trí Thức Trẻ

Sunday, April 5, 2015

Tuyệt chiêu của công ty kẹo 116 tuổi: Mua nguyên liệu rẻ, không để lọt 1 xu ra ngoài

Thành công của hãng kẹo Tootsie Rolls được tóm gọn trong câu: “Họ tập trung, mua những nguyên liệu rẻ và không để 1 đồng nào lọt ra ngoài”.


Nếu hỏi bất kỳ người Mỹ nào liệu họ có biết thông tin gì về hãng sản xuất kẹo Tootsie Rolls phổ biến tại đây không gần như tất cả đều nói không.

Công ty có tuổi đời 116 năm này trở nên bí ẩn hơn bao giờ hết trong vài năm trở lại đây và gần như không có kết nối với thế giới bên ngoài. Họ không tiếp xúc với truyền thông, báo giới, từ chối tổ chức buổi công bố kết quả kinh doanh hàng quý và chỉ phát hành bản báo cáo kết quả kinh doanh bằng file PDF.

Thậm chí vào năm 2011, một số chuyên gia phân tích đã thành lập nhóm để cố gắng thu thập thông tin về công ty này nhưng thất bại. Elliott Schlang – một người tham gia cho biết: “Tôi nghĩ cách duy nhất để bạn có thể vào được nhà máy sản xuất của Tootsie Roll là nhảy qua hàng rào và đột nhập vào trong”.

Chủ tịch và CEO của Tootsie Rool là Melvin Gordon cùng vợ là bà Ellen đã lãnh đạo công ty này trong suốt 50 năm và vừa qua đời vào tháng 1/2015, hưởng thọ 95 tuổi. Điều đáng nói là dù là công ty đại chúng nhưng Gordon điều hành Tootsie như một công ty tư nhân. Điều này khiến các nhà đầu tư rất khó khăn trong việc thu thập thông tin về doanh nghiệp này.

Rất nhiều nhà đầu tư tỏ ra không đồng tình với cách điều hành của Gordon chính vì vậy có không ít cáo buộc rằng Gordon sử dụng vốn của công ty để phục vụ cho cuộc sống xa hoa của riêng mình. Cụ thể, 2 vợ chồng ông Gordon kiếm được 7,6 triệu USD trong năm 2012 và thường dùng phi cơ riêng của công ty để di chuyển giữa nhà của họ tại Massachusetts và văn phòng tại Chicago với chi phí lên tới hơn 10.000 USD/tháng.

Cổ phiếu của công ty đã tăng lên 8% sau tin ông Gordon qua đời, và đặc biệt là tin có thể Tootsie Roll Industris sẽ được thôn tính.

Ông chủ kín tiếng nhưng tài năng

Ông Gordon sinh ra và lớn lên tại Boston. Ông tốt nghiệp đại học Harvard vào năm 1941. Gordon từng  tham gia quân đội và là biên tập viên của tờ Quatermater Journal. Sau đó ông gia nhập công ty đồ may mặc của phụ nữ tại Manchester và rồi trở thành CEO của công ty này.

Vào năm 1950, ông cưới Ellen Rubin – con gái của William Rubin và sau đó trở thành chủ tịch của công ty Sweet Company of American. Những thông tin về Sweet Company of American cũng hết sức bí ẩn. Theo thông tin từ website, gốc rễ của Tootsie Rolls xuất phát từ năm 1896 khi một người Áo nhập cư có tên là Leo Hirshfield bắt đầu sản xuất kẹo socola dành cho con gái của mình.

Tuy nhiên theo nghiên cứu của Samira Kawash, tác giả cuốn: “Kẹo: Một thế kỷ của sự hỗn loạn và áp ực” thì bước đột phá của ngành kẹo tới sau khi Leo Hirschefeld – một nhà đầu tư tại công ty
Stern&Saalberg đã được trao bằng sáng chế vào năm 1908 với loại kẹo Tootsie Rolls. Kể từ đó, Stern&Saalberg bắt đầu bán loại kẹo gọi là Tootsie Rolls và tung ra các chiến dịch quảng bá. Công ty này sau đó trở thành Sweet Company of America.

Có nhiều giả định được đặt ra về nguồn gốc mối quan hệ giữa gia đình Rubin và Sweet Company of American. Công ty IPO vào năm 1922, vào đúng năm ông Hirschfeld đã chết do tự sát. Theo người phát ngôn của công ty, mẹ của Gordon và những thành viên khác trong gia đình Rubin đã mua bổ phần của công ty ngay sau đó. Tuy vậy trong năm 1930, gia đình Rubin đã giành lại quyền kiểm soát.
Ông Gordon gia nhập Sweet Company of American vào năm 1952. Một thập kỷ sau, ông trở thành CEO và vài năm sau nữa, công ty đổi tên thành Tootsie Roll Industries và chuyển trụ sở công ty tới Chicago.

Vào năm 2013, Tootsie Roll Industris đạt doanh thu 539,6 triệu USD và lợi nhuận là 60,8 triệu USD. Qua ngày 30/9/2014, công ty đạt doanh thu 402 triệu USD và lợi nhuận là 45,3 triệu USD. Sau khi ông Gordon qua đời, vợ của ông là bà Elle sẽ tiếp quản vị trí của ông tại công ty.

Dù có nhiều đồn đoán và bí ẩn xung quanh đế chế Tootsie Roll nhưng không ai phủ nhận những đóng góp của ông Gordon cho công ty. Từ khi lên nắm quyền kiểm soát năm 1970, Gordon đã mua Mason và Bonomi – nhà sản xuất Dots gumdrop và ra mắt sản phẩm thành công nhất của công ty là Tootsie Pop. Nói về công thức tạo nên thành công của Tootsie, công ty này cho biết: “Nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có thể là kích thước miệng của bạn hay cách thưởng thức. Nhưng về cơ bản, thế giới sẽ không bao giờ biết được”.

Đến những năm 1980, Tootsie Roll tiếp tục thâu tóm Charms – nhà sản xuất Blow Pops và năm 1990 họ mua lại các thương hiệu bao gồm Sugar Daddy và Junior Mints. Đầu năm 2000, công ty ra mắt thêm 2 sản phẩm là Andes mints và Dubble Bubble

Kết quả là, công ty đã tăng được doanh số bán hàng lên gần gấp đôi chỉ trong 2 thập kỷ mà không cần chi quá nhiều tiền cho quảng cáo hay bị phân tâm bởi những thương vụ mua lại không cần thiết.
Họ tập trung, mua những nguyên liệu rẻ và không để 1 đồng nào lọt ra ngoài” là nhận định của Howard Pines – nhà sáng lập của công ty tư vấn  BeamPines từng có lần được hợp tác cùng Tootsie Rolls nói. “Họ không mua bất cứ thứ gì không cần thiết”.
Theo Trí Thức Trẻ 

>> Bí mật thành công của gia tộc Mỹ có 14 tỷ phú do làm… nông nghiệp

Saturday, March 21, 2015

Mahatma Gandhi: Hãy thay đổi rồi bạn sẽ thấy kết quả

Ứng dụng những lời khuyên bảo của Mohandas Karamchand Gandhi trong việc lãnh đạo trong môi trường làm việc của doanh nghiệp.

Nội dung nổi bật: 

Lãnh tụ Mahatma Gandhi được xem như biểu tượng của nhà lãnh đạo yêu chuộng hòa bình với những triết lý sâu sắc có thể ứng dụng vào nhiều mặt trong cuộc sống, trong đó có cả việc làm thế nào để biến đổi và thu phục nhân tâm trong doanh nghiệp:

- Hãy trở thành sự thay đổi bạn muốn thấy trên thế giới

- Hạnh phúc là khi những gì bạn nghĩ, những gì bạn nói và những gì bạn làm đều hòa hợp.

- Con đường tốt nhất để tìm thấy chính mình là quên đi bản thân khi phục vụ người khác.

- Sức mạnh gồm có hai loại. Một loại có được từ nỗi sợ bị trừng phạt, còn loại kia có được từ những hành động yêu thương.


Mohandas Karamchand Gandhi, thường được mọi người biết với tên Mahatma (nghĩa là “linh hồn vĩ đại”) Gandhi từng là một vị lãnh tựu nổi bật trong cuộc đấu tranh giành độc lập từ đế quốc Anh của nhân dân Ấn Độ. Ông được tôn thờ như một biểu tượng của hòa bình và sự thật. Trên cương vị một nhà lãnh đạo, chúng ta có thể học được rất nhiều từ những lời dạy của ông.

Mặc dù những câu nói và lời dạy của Gandhi chủ yếu được ứng dụng chung vào toàn nhân loại, có nhiều lời khuyên của ông có thể được áp dụng một cách thích hợp và biến đổi phù hợp với môi trường làm việc.

Hãy là sự thay đổi mà bạn muốn được thấy trên thế giới này

Một trong những cách đơn giản nhất để dẫn dắt và tạo cảm hứng cho nhân viên là việc trở thành một tấm gương lãnh đạo tốt. Sau tất cả thì hành động có ý nghĩa lớn hơn cả lời nói - nhất là đối với nhân viên. Trách nhiệm của người chủ chính là tạo cảm hứng và động viên nhân viên của mình thúc đẩy bản thân và đạt đến hiệu quả làm việc cao nhất.

Do các nhân viên thường có xu hướng quan sát những gì sếp của mình làm, người quản lý phải hành xử một cách đúng đắn. Chẳng hạn như, nếu như tán gẫu trong giờ làm gây xao lãng nhân viên khác và có tác động xấu đến văn hóa của công ty, hãy lái các cuộc nói chuyện xa ra khỏi việc này. Nếu nhân viên không nhận trách nhiệm cho sai lầm của họ, hãy chỉ cho họ thấy làm cách nào để giải trình một cách công khai khi cần thiết.

“Hạnh phúc là khi những gì bạn nghĩ, những gì bạn nói và những gì bạn làm đều hòa hợp”

Nói một cách khác, hạnh phúc trong công sở và năng suất làm việc phụ thuộc rất lớn vào việc liên kết những suy nghĩ, từ ngữ và hành động của các nhân viên. Đây là việc làm hết sức quan trọng tới việc sắp xếp những mục tiêu của nhân viên phù hợp với mục đích chung của công ty.

Nhân viên nên thấu hiểu được những mục tiêu của công ty, vì thế cho nên sếp chính là người phải gắn kết các nhiệm vụ lại với nhau. Một nhân viên thường xuyên được cập nhật và hiểu được chiến lược của công ty có thể sắp xếp những mục tiêu của họ tốt hơn để từ đó đạt được mục tiêu của tổ chức.

“Con đường tốt nhất để tìm thấy chính mình là quên đi bản thân khi phục vụ người khác”

Một phẩm chất mà nhiều nhà lãnh đạo có điểm chung với nhau chính là họ sẵn sàng giúp những người cần giúp đỡ. Đây là một tính cách đặc biệt cần thiết cho việc lãnh đạo trong môi trường làm việc. Trong việc nỗ lực đễ giữ những nhân viên hài lòng với vị trị của họ và xa hơn nữa là tạo động lực cho nhân viên theo đuổi những mục tiêu trong công việc, hãy xem xét áp dụng một chính sách mở. Hãy cho nhân viên biết rằng, khi họ cần giúp đỡ, họ luôn được chào đón – và được khuyến khích – yêu cầu sự giúp đỡ.

Lời khuyên này từ Gandhi còn có thể kể đến các nỗ lực nhân ái của công ty. Việc hợp tác trong hoạt động cho đi không chỉ có ảnh hướng lâu dài vào cộng đồng, mà còn đem lại lợi ích cho hình ảnh của công ty, tinh thần đồng đội, sự cam kết của nhân viên và tinh thần của họ.  Một công ty có chung một mục đích phục vụ sẽ cùng nhau lớn mạnh và phát triển.

“Sức mạnh gồm có hai loại. Một loại có được từ nỗi sợ bị trừng phạt, còn loại kia có được từ những hành động yêu thương”

Sức mạnh dựa trên sự yêu thương có hiệu quả gấp ngàn lần và vĩnh cửu hơn cả loại sức mạnh đạt được từ nỗi sợ hãi và những hình phạt. Cách mà một nhà quản lý đối xử với nhân viên của họ có thể sẽ ảnh hưởng tốt hoặc xấu đến ý chí và năng suất làm việc của họ. Theo khảo sát vào năm 2014 thực hiện trên 2.100 giám đốc tài chính và gần 300 nhân viên được thực hiện bởi Tổ chức quản lý nhân lực trong xã hội (SHRM), chỉ ra rằng sự không hạnh phúc với cách quản lý chính là một trong những lý do hàng đầu các nhân viên rời bỏ công việc của họ.

Để nuôi dưỡng một đội ngũ nhân viên hạnh phúc và trung thành, hãy chủ động cho họ thấy họ được trân trọng nhiều như thế nào trong công việc. Hãy công nhận những thành công của nhân viên và chúc mừng những cột mốc quan trọng của họ. Ngay cả một lời “cảm ơn” đơn giản có thể là một sự khác biệt lớn đối với các nhân viên.

Theo Trí Thức Trẻ/Entrepreneur

Wednesday, March 18, 2015

Kế hoạch kinh doanh: Chìa khóa thành công nhiều người bỏ quên

Những nhà lãnh đạo đặt bút viết bản kế hoạch kinh doanh sẽ đảm bảo được công ty của họ vẫn có thể hoạt động được kể cả trong trường hợp không có họ chèo lái.


Nội dung nổi bật:

- 4 sai lầm phổ biến nhất trong suy nghĩ của nhiều nhà quản lý doanh nghiệp gồm: Tôi chỉ cần bản kế hoạch kinh doanh cho thời điểm xuất phát, Tôi không cần viết một bản kế hoạch kinh doanh vì tất cả luôn ở trong đầu tôi rồi, Tôi cần thay đổi tư duy để kích thích tăng trưởng chứ không cần viết kế hoạch kinh doanh, Viết kế hoạch kinh doanh không có ích gì vì tình hình kinh doanh của công ty thay đổi hàng tuần.

- Một doanh nghiệp với một bản kế hoạch kinh doanh đúng đắn và hoàn chỉnh sẽ tạo ra doanh thu, sinh lời và kéo dài tuổi thọ của doanh nghiệp.


Theo một nghiên cứu mới đây của Trung tâm Kauffman về lãnh đạo doanh nghiệp, những công ty với kế hoạch kinh doanh được viết ra rõ ràng và hoàn chỉnh có mức tăng trưởng nhanh hơn 50% và đạt mức tỉ suất lợi nhuận gộp cao hơn 12% so với những công ty khác.

Khi một bản kế hoạch kinh doanh được viết ra, những cơ hội cho sự tăng trưởng của công ty trở nên rõ ràng hơn. Điều này còn đem lại lòng tin từ phía các nhà đầu tư tiềm năng và bạn có thể đảm bảo một nguồn tài trợ bên ngoài khi cần thiết.

Đã có nhiều doanh nhân chia sẻ lý do vì sao họ không viết ra một bản kế hoạch kinh doanh cho công ty của mình, nhưng họ đang sai. Mọi doanh nghiệp đều cần một bản kế hoạch kinh doanh – và không phải chỉ một bản mà là mỗi bản cho một năm.

Sau đây là bốn sai lầm phổ biến nhất trong suy nghĩ của nhiều nhà quản lý doanh nghiệp:

1. Tôi chỉ cần bản kế hoạch kinh doanh cho thời điểm xuất phát hoặc khi tôi cần một khoản vay, một khoản đầu tư

Một bản kế hoạch kinh doanh sẽ giúp bạn ra những quyết định đúng, giữ công ty tiếp tục hoạt động và ngăn bạn đi lệch khỏi con đường hướng tới những mục tiêu cuối cùng.

Hàng năm, bạn nên ngồi xuống và lập chiến lược cho 12 tháng sắp tới. Rút ra những bài học của năm vừa qua, tự định vị lại vị trí của mình trên thị trường và đánh giá lại những định hướng kinh doanh của mình. Bây giờ đã là tháng ba nhưng vẫn chưa phải là muộn để làm những việc này.

2. Tôi không cần viết một bản kế hoạch kinh doanh vì tất cả luôn ở trong đầu tôi rồi.

Việc không viết một bản kế hoạch kinh doanh sẽ cản trở bạn phát triển công ty của mình. Đặt bút viết một bản kế hoạch kinh doanh là bạn đang hệ thống hóa lại công việc kinh doanh của công ty, để khi thiếu bạn công ty vẫn có thể hoạt động tốt. Có một cách để định nghĩa một doanh nghiệp thành công, đó là “một doanh nghiệp sinh lợi nhuận và hoạt động không cần bạn”. Nếu bạn giữ mọi kế hoạch kinh doanh trong đầu, điều này có thể sẽ không xảy ra.

3. Tôi cần thay đổi tư duy để kích thích tăng trưởng chứ không cần viết kế hoạch kinh doanh

Trên thực tế, tư duy hay quan điểm kinh doanh không phải vấn đề lớn mà là mô hình hoạt động hợp lý. Khi viết ra một bản kế hoạch kinh doanh, bạn có thể bắt đầu nhìn thấy toàn cảnh và không đặt áp lực phải thay đổi tư duy lên chính bản thân mình. Từ đó, bạn có thể thấy các chiến lược, thường là những chiến lược khả thi giúp kích thích tăng trưởng cho công ty.

4. Viết kế hoạch kinh doanh không có ích gì vì tình hình kinh doanh của công ty thay đổi hàng tuần

Cần nhớ rằng bản kế hoạch kinh doanh của bạn không phải một danh sách những điều mong muốn mà phải là một danh sách những mục tiêu thực tế và khả thi, đi cùng với những kế hoạch hành động cụ thể để đạt được những mục tiêu đó.

Tuy nhiên, không nên hiểu bản kế hoạch kinh doanh là con đường duy nhất, mà hãy nhìn nhận nó như một định hướng chung mà bạn muốn theo. Bạn cần học cách lập kế hoạch để vượt qua bất kỳ “cơn bão” nào có thể ập tới bất thình lình.

Một bản kế hoạch kinh doanh nên có những nội dung sau:

- Văn hóa công ty: giá trị cốt lõi và sứ mệnh của công ty là gì?

- Mục đích: công ty hoạt động kinh doanh vì mục đích gì? Phân tích SWOT (SWOT – viết tắt của Strengths, Weaknesses, Opportunities và Threats): là một công cụ quản trị, dùng để đánh giá các thế mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp, những cơ hội và mối đe dọa đến từ môi trường bên ngoài đối với doanh nghiệp tại thời điểm đó.

- Mục tiêu dài hạn: là những điều bạn muốn đạt được trong 5-10 năm tới Mục tiêu trung hạn: là những điều bạn muốn đạt được trong 3-5 năm tới.

- Mục tiêu ngắn hạn: là những điều bạn muốn đạt được trong 1 năm tới.

- Những tiềm lực (gồm nội lực và ngoại lực) có thể giúp công ty đạt được mục tiêu ngắn hạn và trung hạn là gì.

- Hệ thống KPI (KPI – viết tắt của Key Performance Indicator): là một hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty và các bộ phận trong công ty, giúp bạn biết công ty đang làm tốt hay không tốt và từ đó đưa ra những quyết định về quản trị.

- Bảng điểm cân bằng (Balanced Scorecard): là một công cụ quản trị, dùng để lên kế hoạch chiến lược, giúp công ty điều khiển hoạt động kinh doanh đi đúng với tầm nhìn và chiến lược đã lập trước.

- Bảng điểm cân bằng thường đi cùng với hệ thống KPI để giám sát và đo lường hiệu quả hoạt động so với các mục tiêu chiến lược của công ty.

- Kế hoạch tiếp thị: làm thế nào để bán được nhiều hàng (hoặc dịch vụ) hơn và làm thế nào để tăng doanh thu.

- Kế hoạch vận hành: xây dựng những quy trình giúp công ty hoạt động hàng ngày và làm thế nào để tối ưu hóa hiệu quả vận hành.

- Kế hoạch tài chính: đảm bảo rằng công ty đang kiểm soát được chi phí và có doanh thu
Kế hoạch kinh doanh là một tài liệu quan trọng của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp với một bản kế hoạch kinh doanh đúng đắn và hoàn chỉnh sẽ tạo ra doanh thu, sinh lời và kéo dài tuổi thọ của doanh nghiệp. Đó chính là sự khác biệt.

Theo Trí Thức Trẻ

2015: Muốn thành công phải biết bắt chước

Bắt chước luôn là điều cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của tất cả các loài để tiến hóa. Điều này cũng đúng trong thế giới kinh doanh.

Nội dung nổi bật:
- Từ xa xưa bắt chước được xem như một hành động đáng khinh bỉ nhưng xuyên suốt chiều dài lịch sử thì hầu hết những phát minh có giá trị và ảnh hưởng đều là những ý tưởng bị sao chép lại nhưng được thực hiện cải tiến.
- Bắt chước luôn là điều cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của tất cả các loài để tiến hóa. Điều này cũng đúng trong thế giới kinh doanh.
- Để trở thành một công ty biết cách bắt chước, bạn phải xây dựng văn hóa công ty tôn trọng sự bắt chước cũng nhiều như tôn trọng sự sáng tạo.

Khi trả lời phỏng vấn năm 1994, Steve Jobs đã tạo ra tranh cãi khi nói rằng: “Picasso từng nói: -Nghệ sĩ giỏi thì sao chép, nghệ sĩ xuất chúng thì đánh cắp - và chúng tôi luôn không cảm thấy xấu hổ khi đánh cắp những ý tưởng vĩ đại.” Có thể mọi người sẽ cảm thấy kì lạ tại sao một người được cho là cha đẻ của rất nhiều phát minh và sản phẩm làm thay đổi thế giới lại có thể phát biểu như vậy. Nhưng khoan hãy đánh giá về tư cách đạo đức của ông mà hãy nhìn vào bản chất của việc sao chép hay bắt chước.
Từ xa xưa bắt chước được xem như một hành động đáng khinh bỉ nhưng xuyên suốt chiều dài lịch sử thì hầu hết những phát minh có giá trị và ảnh hưởng đều là những ý tưởng bị sao chép lại nhưng được thực hiện cải tiến:
Trước khi Joseph Swan và Thomas Edison chính thức được công nhận là người phát minh ra bóng đèn sợi đốt, đã có 22 nhà phát minh ra loại đèn này. Đèn của Edison hơn các phiên bản khác do kết hợp ba yếu tố: vật liệu đốt hiệu quả hơn, độ chân không trong bóng đèn cao hơn các phiên bản khác (bằng cách sử dụng bơm Sprengel) và điện trở cao hơn khiến việc phân phối điện từ một nguồn trung tâm có thể thực hiện được một cách kinh tế.
Hãng Boeing thấy De Havilland Comet (mẫu máy bay phản lực dân dụng đầu tiên) tại triển lãm hàng không Farnborough năm 1950 và nhận ra tương lai của hàng không dân dụng sẽ là động cơ phản lực. Năm 1958, Boeing trình làng mẫu máy bay Boeing 707 để cạnh tranh và phát triển thành một trong những hãng máy bay tốt nhất thế giới cho đến ngày nay, trong khi đó hãng De Havilland giải thể năm 1964.
Mạng xã hội âm nhạc SoundCloud đình đám hiện tại cũng chịu nhiều ảnh hưởng từ Imeem ngày xưa hay Mark Zuckerberg cũng bị anh em nhà Winklevoss kiện đánh cắp ý tưởng xây dựng nên Facebook. Và gần hơn là tỉ phú Phạm Nhật Vượng cũng bắt đầu bắt chước bầu Đức trong việc đầu tư vào nông nghiệp.
Bắt chước luôn là điều cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của tất cả các loài để tiến hóa. Điều này cũng đúng trong thế giới kinh doanh. Để tiến lên phía trước, cần xây dựng khả năng bắt chước của bạn tại cùng thời điểm bạn phát triển năng lực đổi mới. Bắt chước không phải là sự sao chép rập khuôn mà là lựa chọn những gì tốt đẹp có sẵn, dùng nó làm nền tảng cho ý tưởng mới, sản phẩm mới. Những người bắt chước luôn tìm tòi những ý tưởng mới lạ, những kiến thức vừa được phát hiện mà ít người biết tới hoặc khó phổ biến. Họ biến đổi những ý tưởng đó thành những sản phẩm thực tế hữu ích với giá thành rẻ hơn và tốt hơn.
Để trở thành một công ty biết cách bắt chước, bạn phải xây dựng văn hóa công ty tôn trọng sự bắt chước cũng nhiều như tôn trọng sự sáng tạo. Bạn cần những nhân viên cảm thấy thoải mái với việc áp dụng hơn là phát minh ra những ý tưởng hay khái niệm mới. Bạn cần sự khiêm tốn để thừa nhận người khác, tổ chức khác đã có những ý tưởng tốt hơn.
Đặc điểm của người Việt Nam là thường quá khích. Một là anh sao chép toàn bộ sản phẩm của nước ngoài và đem vào thị trường Việt Nam, không chịu thay đổi cho phù hợp với thị trường trong nước. Hai là anh cứ khăng khăng đâm đầu vào nghiên cứu tìm cách giải quyết một vấn đề mà không chịu nhìn ra thế giới xem đã có giải pháp chưa.
Vậy tìm kiếm sự bắt chước từ đâu? Thông thường chúng ta sẽ bắt chước những người hay công ty trong cùng ngành, có hồ sơ đẹp, có lợi nhuận tốt. Nhưng điều này sẽ giới hạn bạn ở mức độ thấp nhất. Hãy nhìn rộng hơn, tìm kiếm toàn cầu những mô hình tiềm năng có thể sao chép. Nhìn xa hơn ra khỏi môi trường, ngành nghề của bạn để tím thấy những gì người khác đang làm đáng chú ý. Và đừng bao giờ quên những công ty yếu hơn, nhỏ hơn bạn, bởi vì họ luôn tìm ra cách khôn ngoan nhất để sinh tồn trong môi trường kinh doanh cạnh tranh khốc liệt này.
Ý tưởng sáng tạo luôn rất thú vị nhưng nó chỉ có ý nghĩa thật sự khi tạo ra những sản phẩm mang tính ứng dụng. Sự bắt chước cũng không là gì nếu bạn không thể khai thác nó một cách tốt nhất. Hãy chuẩn bị một kế hoạch thực hiện tốt phù hợp với cấu trúc và nguồn lực của công ty. Kết hợp mọi nguồn lực của bạn hiện có với ý tưởng vừa được bắt chước để tạo ra thành quả tốt nhất. Chúc bạn trở thành một kẻ bắt chước vĩ đại!

Theo Tri Thức Trẻ

Wednesday, January 21, 2015

Hermès: Người Đức xây dựng chuẩn mực quý tộc Pháp

Từ một cửa hàng nhỏ chuyên sản xuất yên cương thời trang cho… ngựa, công ty gia đình Hermès sau 2 thế kỷ đã trở thành một trong những hãng thời trang cao cấp và lâu đời nhất thế giới.
Từ yên ngựa đến thời trang xa xỉ bậc nhất thế giới, gia tộc gốc Đức Hermès xây dựng đế chế kinh doanh tại đất Pháp - Ảnh: Internet

Chất quý tộc thuần Pháp của Hermès làm người ta quên mất gia tộc này thực chất là dân Đức di cư.

Người Đức tiến vào "Kinh đô ánh sáng"

Hermès giành được giải thưởng đầu tiên tại Triển lãm Toàn cầu danh giá (Exposition Universelle) 1855 ở Paris, và đến Exposition 1867, ông Thierry được vinh danh huy chương hạng nhất dành riêng cho cá nhân.

Các tín đồ Tin lành trong nhà Hermès đến Pháp định cư vào năm 1828. Mười năm sau đó, ông Thierry Hermès khởi đầu công ty gia đình với nghề làm yên cương trong khu phố Grands Boulevards, chuyên sản xuất các dây cương thuộc da tốt nhất cho xe ngựa phục vụ giới quý tộc.
Các khách hàng của Thierry đều là những quý ông phong cách và có "máu mặt" ở Pháp, hay người thuộc dòng tộc Hoàng gia châu Âu, như Napoléon III và Hoàng hậu Eugénie.

Không lâu sau triển lãm Exposition 1867, ông Thierry trao quyền điều hành công ty lại cho con trai Charles-Émile.

Vị chủ tịch mới đánh dấu thêm một cột mốc trong lịch sử Hermès khi quyết định chuyển cửa hàng về trung tâm sang trọng nhất kinh đô ánh sáng, tại số 24 Rue Faubourg Saint-Honoré, kế Điện Elysée - nay vẫn tự hào cửa hàng đầu tàu của đế chế Hermès.

Với sự trợ giúp của 2 con trai - Adolphe và Émile-Maurice, ông Charles-Émile trình làng một loạt sản phẩm yên ngựa mới và mở rộng bán lẻ cho tầng lớp thượng lưu khắp thế giới, từ Bắc Mỹ, đến Nga và châu Á.  

Thế hệ thứ III của Hermès - Émile-Maurice gây tiếng vang khi trở thành người được độc quyền sử dụng phát minh "dây kéo" trong các sản phẩm da và quần áo của hãng, và là người đầu tiên đưa công nghệ này vào Pháp.

Bí quyết từ những chiếc khăn choàng

Trong 20 năm điều hành, Émile-Maurice (không có con trai nối dõi) đã "tranh thủ" dạy cho 3 người con rể Robert Dumas, Jean-René Guerrand và Francis Puech trở thành các đối tác kinh doanh của Hermès.

Hermès chỉ thực sự tỏa sáng khi bước sang tuổi 31, với việc giới thiệu mẫu khăn vuông 90 phân tay Jeu des Ombinus et Dames Blanches làm mưa làm gió sau này.

Hãng cẩn thận phụ trách mọi khâu sản xuất, từ mua lụa thô Trung Quốc đến quay sợi, dệt ra chất liệu may khăn dày và nặng gấp đôi các mẫu khăn có sẵn tại thời điểm đó.

Các nhà thiết kế đặc biệt của Hermès khi đó chỉ làm một việc duy nhất là sáng tạo ra các mẫu họa tiết họa tiết mới - là cảnh phụ nữ đua ngựa, đánh golf.

Phải mất nhiều năm sau đó, Hermès mới hoàn thiện được các lưới in trích xuất từ thực vật. Mỗi màu sắc thêm vào khăn đòi hỏi 1 tháng sấy khô trước khi in màu khác.

Do đó, một chiếc khăn 40 màu tinh xảo nhất cần đến 3 năm mới hoàn tất. Đáp lại, sản phẩm này nhanh chóng trở thành phụ kiện không thể thiếu đại diện cho phong cách quý tộc nước Pháp. Đến nay, Hermès đã xây dựng được bảng palette gồm 200 nghìn màu!

Trong lịch sử tồn tại của mình, Hermès cũng có thời gian hợp tác với bộ lạc Tuareg để sản xuất một dòng trang sức bạc, vì thế người ta có thể bắt gặp các họa tiết truyền thống du mục của sa mạc Sahara trên một số sản phẩm của Hermès, đặc biệt là trên các mẫu khăn lụa.

Những tín đồ trung thành có tiếng của Hermès còn có Nữ hoàng Elizabeth II - bà từng chụp ảnh chân dung cùng khăn choàng Hermès in trên tem thư những năm 50, Grace Kelly, Audrey Hepbur, Jackie O hay Sharon Stone từng trưng dụng chiếc khăn Hermès trong bộ phim Basic Instinct.

Ngay cả những tên tuổi mới hơn như Sharon Stone, Sarah Jessica Parker, Hillary Clinton, Mariah Carey, Madonna, Oprah Winfrey cũng đặc biệt yêu thích khăn choàng của hãng.

Sau khi Émile-Maurice qua đời năm 1951, con rể Robert Dumas-Hermès trở thành Chủ tịch đầu tiên không thuộc gia tộc và đặc biệt quan tâm phát triển dòng sản phẩm khăn choàng.

Đến năm 1978, ông trao lại quyền điều hành cho con trai Jean-Louis - người đem lại doanh thu lớn cho hãng trong những năm 1990 nhờ kết hợp với nhà thiết kế Jean-Louis để cho ra đời những sản phẩm lạ, như áo jacket dành cho biker hay quần jeans da đà điểu.

Hermès còn nổi danh với các bộ sưu tập túi xách xa xỉ. Để xứng tầm với tiêu chuẩn sang trọng, hãng không sử dụng một dây chuyền lắp ráp, mà mỗi sản phẩm đều được các nghệ nhân bậc thầy chăm chút toàn bộ.
Bóng hồng nước Anh Jane Birkin - “nàng thơ” của dòng túi Hermès Birkin cùng chiếc túi Birkin có 1 không 2 với chuỗi hạt lo âu và bùa may mắn.
Với phương pháp sản xuất thâm dụng lao động, cùng với việc tận dụng các chất liệu hiếm có, đắt đỏ, một túi da độc đáo đòi hỏi 24 giờ tác tạo thủ công.

Ví dụ như một chiếc túi Kelly cần 18 giờ làm việc liên tục của duy nhất 1 thợ thủ công tay nghề cao. Chất liệu da lạ Hermès trưng dụng gồm da thằn lằn Malaysia, cá sấu Florida, bò Pakistan, cá sấu Úc, hay đà điểu, dê và bò từ khắp nơi trên thế giới.

Ngày nay, dòng sản phẩm đặc trưng nhất của hãng là túi Hermès Kelly (đặt theo tên của Grace Kelly), túi Hermès Birkin (vinh danh Jane Birkin) và túi đeo vai Constance - những sản phẩm luôn có danh sách khách hàng chờ đợi xếp dài.

Victoria Beckham là "fan ruột" của dòng túi Birkin khi sở hữu bộ sưu tập có giá trị đồn đại lên đến 1,5 triệu bảng Anh. Hay "chịu chơi" như Lady Gaga sắm hẳn cho mình chiếc túi Birkin thiết kế riêng với họa tiết chữ Nhật cách điệu.

"Bóng hồng" nước Anh Jane Birkin - chủ nhân tinh thần của dòng túi Birkin huyền thoại - cũng sở hữu một chiếc túi Birkin có 1 không 2 với chuỗi hạt lo âu và bùa may mắn.
CHÂULUÂN/Tuổi Trẻ

5 chiến lược kinh doanh cần biết năm 2015

Là chủ một doanh nghiệp, bạn có thể nhận thấy rất nhiều các ý tưởng và chiến lược kinh doanh cốt lõi thường được áp dụng từ năm này qua năm khác. tuy nhiên, trong vài năm gần đây công nghệ thông tin đã thay đổi viễn cảnh của các doanh nghiệp.

Bởi công nghệ thông tin ngày càng lan truyền nhanh chóng bạn cần cập nhật ngay các chiến lược kinh doanh mới nhất, giống như 5 chiến lược kinh doanh của năm 2015 sau đây.

1. Hãy nghĩ đến các thiết bị di động
5 chiến lược kinh doanh cần biết năm 2015 (1)
Trong năm 2014, nghiên cứu cho thấy rằng điện thoại thông minh và máy tính bảng chiếm 60% tổng thời gian sử dụng các phương tiện truyền thông kỹ thuật số, tăng 50% so với năm 2013.

Năm nay, chúng ta có thể mong đợi số người sử dụng điện thoại di động sẽ tiếp tục gia tăng. Theo dự đoán sẽ có khoảng 2,97 tỷ người sử dụng Internet di động và số lượng người sử dụng Internet toàn cầu sẽ chiếm 91% vào năm 2017.

Nếu trang web của bạn không hỗ trợ điện thoại di động, bạn cần phải sửa chữa ngay lập tức. Hãy nhớ rằng, hơn một nửa số lượt xem trực tuyến của bạn được truy cập từ một thiết bị di động.

Là một chuyên gia về kinh doanh, Susan Solovic đưa ra lời khuyên trên Business 2 Community rằng bạn cũng nên "xem xét xây dựng một ứng dụng, mã QR và nhiều hơn nữa. Dành thời gian để nghiên cứu các chủ đề và tìm ra cách tốt nhất cho doanh nghiệp tận dụng lợi thế tiếp thị trên điện thoại di động".

2. Cải thiện trải nghiệm của khách hàng
5 chiến lược kinh doanh cần biết năm 2015 (2)
Andrew Reid, người sáng lập và là CEO của Vision Critical, chia sẻ với tờ Entrepreneur: "Khách hàng đang bắt đầu hiểu ra giá trị thực sự của họ với các công ty. Khi mà một đơn khiếu nại trên mạng xã hội có thể khiến doanh nghiệp mất hàng triệu đô la, một bản đánh giá trực tuyến có thể thay đổi số phận của một nhà hàng và những lời phản hồi có thể ảnh hưởng đáng kể đến các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp."

Đó là lý do tại sao trong năm 2015 bạn nên thực hiện các chiến lược để nâng cao trải nghiệm của khách hàng. Một số các chiến lược bao gồm:

Kết nối với khách hàng cá nhân và lắng nghe ý kiến phản hồi của họ. Khi đã biết khách hàng, bạn có thể cung cấp những trải nghiệm khác nhau cho từng người. Cung cấp giải trí là một cách tuyệt vời để truyền bá nhận thức về thương hiệu, thu hút khách hàng mới và giữ chân khách hàng cũ.

3. Trở về cơ bản
5 chiến lược kinh doanh cần biết năm 2015 (3)
Susan Solovic khẳng định rằng bạn cần phải ngừng theo đuổi xu hướng. Thay vào đó, "trong năm 2015, các chủ doanh nghiệp nhỏ sẽ nhìn vào tổng thể và thiết kế những chiến lược marketing riêng". Điều này có nghĩa là kết hợp các chiến thuật truyền thống như gửi thư trực tiếp với quảng cáo Facebook, tiếp thị nội dung, SEO và CRM.

4. Coi nội dung tiếp thị như một sản phẩm
5 chiến lược kinh doanh cần biết năm 2015 (4)
Arnie Kuen, Giám đốc điều hành của Vertical Measures, gần đây đã chia sẻ suy nghĩ của mình về tương lai của tiếp thị nội dung trên Marketing Land rằng "nội dung không chỉ là lời nói hay hình ảnh trên một trang web - đó còn là thông tin mà đối tượng của bạn đang tìm kiếm". Trong thực tế, "nội dung được coi như một sản phẩm".

Như Kuen kết luận: "Bằng cách tạo ra một thương hiệu nội dung, công ty cho phép người dùng có trải nghiệm tốt với sản phẩm đầu tiên mà họ tiếp xúc với: chính là nội dung".

5. Đầu tư vào đào tạo và giáo dục
5 chiến lược kinh doanh cần biết năm 2015 (5)
Nghiên cứu được tiến hành năm ngoái cho thấy: "Chi phí đào tạo của các công ty tại Mỹ tăng 15% trong năm qua (tốc độ tăng trưởng cao nhất trong bảy năm) lên hơn 70 tỷ USD ở Mỹ và hơn 130 tỷ USD trên toàn thế giới"

Các công ty nên đào tạo nhân viên theo nhóm nếu doanh nghiệp còn thiếu trong lĩnh vực nào đó, nó cũng có nghĩa là bạn cần phải đảm bảo nhân viên của mình là những thành viên năng suất của nhóm.

Theo Diễn Đàn Đầu Tư

Thursday, December 18, 2014

Hôn nhân và kinh doanh đều sụp đổ vì 3 lý do giống nhau sau

Bạn có thể tìm thấy điểm tương đồng giữa một cuộc hôn nhân và một công ty hay việc kinh doanh bởi cả hai đều vận hành trên cùng nhóm các vấn đề. 
Nhà tâm lý học Peter Pearson bắt đầu dự án tư vấn dành cho những cặp đôi có tên The Couples Institute cùng vợ của mình vào năm 1998 tại Menlo Park, California - trung tâm của thung lũng Silicon.


Theo Pearson, bạn có thể tìm thấy điểm tương đồng giữa một cuộc hôn nhân và một công ty hay việc kinh doanh bởi cả hai đều vận hành trên cùng nhóm các vấn đề.

"Nhìn chung, những doanh nghiệp và các cuộc hôn nhân thất bại bởi 3 lý do tương tự nhau," Pearson nói.

Chúng bao gồm:

Không học hỏi từ kinh nghiệm

“Các mối quan hệ sụp đổ đều có cùng một vấn đề tồi tệ lặp đi lặp lại là họ không học được gì từ những vấp ngã trước đó”, Pearson cho biết.

Tương tự như vậy, một công ty liên tục vấp phải những vấn đề về tuyển dụng, bán hàng, vận chuyển sản phẩm hoặc đều dẫn tới việc sụp đổ.

Bạn phải thừa nhận rằng luôn luôn có những vấn đề nảy sinh xuất hiện tại nơi làm việc hay trong một mối quan hệ. Điều quan trọng phải có tư duy, bản lĩnh đủ trưởng thành, nhìn nhận các vấn đề như là những cơ hội phát triển, Pearson phân tích.

"Định nghĩa về sự thành công không phải là bạn không gặp phải những vấn đề rắc rối," ông nói. "Thành công là bạn không vấp phải những vấn đề tương tự từng trải qua trong năm ngoái hay quá khứ."

Không thích nghi với sự gián đoạn

Giáo sư nổi tiếng thuộc trường kinh doanh Harvard Clay Christensen từng chia sẻ về vai trò sáng tạo của sự gián đoạn trong một bài phỏng vấn. Ông mô tả sự thay đổi về những điều kiện trong một ngành công nghiệp có thể phá hủy hoặc nuôi dưỡng một doanh nghiệp ra sao - như cách mở rộng băng thông truy cập internet từ cho phép Netflix phát triển và khiến Blockbuster sụp đổ.

Nếu bạn không thích nghi với những thay đổi mang tính kiến tạo trong việc kinh doanh, bạn sẽ lùi vào quá khứ và điều này cũng tương tự như trong một mối quan hệ.

"Nếu bạn có những đứa trẻ đi cùng mình trên cuộc hành trình thì đó cũng là một sự thay đổi có điều kiện,” Pearson cho biết.

Những đứa trẻ là một lỗ hổng có sức hấp dẫn. Chúng thay đổi toàn bộ động lực của một cuộc hôn nhân, hút năng lượng cũng như sự quan tâm của bất cứ ai trong mối quan hệ này và có thể dẫn tới lơ là với đối phương.

"Bạn phải tìm ra cách để bù đắp cho điều này," ông nói.

Không dự đoán những vấn đề tương lai

Các lãnh đạo doanh nghiệp luôn đặt ra những câu hỏi tốt về tương lai của họ. Danny Meyer, người đứng đầu cao cấp tập đoàn kinh doanh ăn uống Union Square Hospitality thích đặt ra những hỏi như “Chúng ta có thể làm cách nào để trở thành công ty đánh bại được các đối thủ ra khỏi kinh doanh?"

Nhưng trong mối quan hệ hôn nhân, hiếm có cặp vợ chồng nào đặt những câu hỏi tương tự về tương lai rõ ràng như trong công việc.

Lấy ví dụ về một cặp vợ chồng quyền lực điển hình, cả hai đều dành hàng giờ tại văn phòng làm việc. Pearson nói rằng họ không còn khả năng để suy nghĩ. Họ ở trong quỹ đạo hàng ngày về đến nhà mệt mỏi mỗi đêm, làm việc xuyên suốt cuối tuần và không còn tâm trí để nghĩ đến liệu cuộc hôn nhân sẽ ở đâu trong 5 năm tới. Và cũng nhiều người cho rằng điều này là không hệ trọng bởi dù gì thì họ cũng sẽ đi cùng nhau đến cuối cuộc đời.

Đây là một vấn đề lớn. Nếu không có suy nghĩ về nơi bạn đang đến, bạn sẽ không có được một kết quả mỹ mãn. Do đó việc tự hỏi về quỹ đạo hiện tại của một mối quan hệ là phương thức hữu ích tương tự như việc hình dung ra tương lai doanh nghiệp của bạn.

"Hầu hết các cặp vợ chồng dừng lại việc suy nghĩ nghiêm túc về mối quan hệ của họ sau khi giai đoạn trăng mật. Sau khi bước vào đời sống hôn nhân, họ chỉ là giả định rằng mọi thứ sẽ diễn ra như thường lệ," Pearson nói. "Nhưng hôn nhân không khác gì việc hai người cùng bắt đầu một công ty khởi nghiệp. Không ai bắt đầu một dự án khởi nghiệp mà không đắn đo suy nghĩ. Vì vậy, hãy luôn giữ những suy nghĩ, xem xét nghiêm túc này trong suốt cuộc hôn nhân nào của bạn.
Theo Trí Thức Trẻ/Business Isider

Saturday, December 6, 2014

"Miễn phí" mà vẫn kiếm nhiều tiền

Google là một trong những công ty sinh lời nhất nước Mỹ. Họ đã kiếm được rất nhiều tiền mà không bắt người khác phải trả tiền. Miễn phí nhưng vẫn kiếm đủ để căn bản tạo nên một nền kinh tế với quy mô của một quốc gia khá lớn. Chuyện này xảy ra như thế nào và sẽ đi về đâu?


Về tác giả

Chris Anderson sinh năm 1961, hiện đang sinh sống ở California, USA. Ông từng làm việc cho các tạp chí nổi tiếng như Nature, Science và The Economist.
Năm 2001, ông lãnh đạo tờ Wired - một tạp chí đã giành nhiều giải thưởng lớn ở Hoa Kỳ. Năm 2006, ông xuất bản cuốn “Cái đuôi dài” (Long Tail) - best seller thời điểm ấy.
Năm 2009, ông được đưa vào danh sách 50 nhà tư tưởng lớn của thế giới, cùng với những nhân vật như Steve Johs, Jack Welch, Bill Gate, Paul Krugman, Joseph Stiglitz, Michael Porter, Daniel Goleman, Thomas Freedman…

Nội dung chính
LỜI GIỚI THIỆU
Với chiếc máy tính xách tay, ở quán cafe wifi, ta có thể ngồi làm việc một cách thoải mái. Mọi cái ta thực hiện trên máy tính từ thư điện tử cho đến lời nhắn tin trên Twitter, chạy chương trình duyệt Firefox, Google… đều hoàn toàn miễn phí (trừ café).
Miễn phí của thế kỷ XXI khác với thế kỷ XX như thế nào? Miễn phí không có gì mới, nhưng nó đang thay đổi, phải thấu hiểu miễn phí kiểu mới để chi phối thị trường ngày mai.

SỰ RA ĐỜI CỦA MIỄN PHÍ
Cuối thế kỷ XIX, Pearle Wait chiết xuất chất Glatin từ thịt và xương để tạo ra một gia vị thực phẩm mới rất hấp dẫn là Joll_0. Nhưng ông không thể bán được hàng vì sản phẩm còn rất xa lạ với người tiêu dùng. Cuối cùng ông phải bán nhãn hiệu này cho Frank Woodward với giá 450 USD. Nhưng rồi tình hình thật ảm đảm, hàng tồn kho ngày càng nhiều, Woodward nản chí, bán lại cho Nico với giá 35 USD nhưng Nico từ chối.

Năm 1902, Woodward cùng người phụ tá của mình thử cách khác: Trước hết họ đăng một mẫu quảng cáo trên Ladies’Home journal với giá 336 USD, rồi in hàng ngàn quyển sách mỏng giới thiệu Joll_0 với những công thức chế biến thực phẩm phát miễn phí cho các bà nội trợ.

Đến 1904 chiến dịch bán hàng đã thành công rực rỡ, doanh số đạt đến 1 triệu USD. Woodward hiểu rằng “miễn phí là một từ có quyền năng siêu việt”, miễn phí không có nghĩa là phi lợi nhuận mà có nghĩa rằng sản phẩm phải đi trên con đường gián tiếp đến với thị trường.

King Gillette

Cùng khoảng thời gian đó, tại Boston, một ngày nọ, King Gillette đang cạo râu bằng con dao xếp đã mòn đến mức không còn mài được nữa, ông nảy ra ý tưởng làm lưỡi dao bằng một băng kim loại mỏng, để thay vì phải mất thời gian mài dao, người ta chỉ cần vứt đi khi dao cùn. Lưỡi dao cạo dùng xong rồi bỏ đã ra đời từ đó.

Trong năm đầu 1903, Gillette chỉ bán được tổng cộng 51 con dao và 168 lưỡi dao. Những năm tiếp theo, Gillette đã thử mọi mẹo marketing, như: cho in hình mình trên bao bì, bán hàng triệu dao cạo cho quân đội với giá rẻ, bán từng lô dao cạo cho ngân hàng để họ tặng khách hàng, dao cạo được bán kèm với mọi thứ từ kẹo cao su đến các gói café, trà, hương liệu, thậm chí phát không cho khách hàng.
Bằng những cách ấy, Gillette đã tạo ra nhu cầu lưỡi dao cạo dùng xong rồi bỏ. Gillette đã bán dao cạo với giá rất rẻ, nhưng lưỡi dao thì có giá tương đối cao.

Sau này, người ta áp dụng mô hình của Gillette trong tất cả các ngành: cho không điện thoại di động, thu phí sử dụng hàng tháng; bán máy chơi game với giá rẻ nhưng bán các trò chơi với giá đắt; lắp đặt các máy pha café tại các văn phòng không thu phí để rồi bán café gói cho các chủ văn phòng.

Vào buổi bình minh của thế kỷ XX, miễn phí tiếp thêm sức sống cho cuộc cách mạng của người tiêu dùng. Miễn phí là lời hiệu triệu của những nhà tiếp thị hiện đại và luôn được người tiêu dùng đáp lại.

Miễn phí của thế kỷ XXI

Miễn phí của thế kỷ XXI không phải là thứ mẹo, mà là một khả năng mới phi thường làm giá thành của sản phẩm và dịch vụ giảm xuống gần bằng không. Hình thức miễn phí dựa trên kinh tế học của những con số nhị phân chứ không phải là nguyên tử. Đó là phẩm chất độc nhất vô nhị của thời đại số khi mà một thứ nào đó trở thành phần mềm thì nó không tránh khỏi trở thành miễn phí.

MIỄN PHÍ LÀ GÌ?

Miễn phí nhập môn
Miễn phí gốc là một từ ghép trong tiếng Latin bao gồm từ Liber (tự do) và Grastis (để cảm ơn). Ý nghĩa “tự do” tích cực đôi lúc cũng gây ra sự mơ hồ nên phải dùng từ Gratis để nhấn mạnh thực sự miễn phí. Nhưng rồi kết cục người ta lại dùng một từ free duy nhất. Từ free, miễn phí hay tự do có gốc từ tiếng Anh cổ freon, freogan (tự do, tình yêu). Như vậy, free - miễn phí xuất phát từ ý niệm xã hội của sự giải thoát, cả khỏi ách nô lệ lẫn chi phí.

Muôn hình vạn trạng của chi phí

"Miễn phí” có rất nhiều ý nghĩa. Đôi lúc “free” không thực sự miễn phí: mua một tặng một, miễn phí giao hàng (có nghĩa phí giao hàng đã tính trong giá bán), hàng mẫu miễn phí (free sample), dùng thử miễn phí (free trial) - tạo tâm lý mắc nợ, khuyến khích người tiêu dùng mua sản phẩm nguyên giá…
Đôi khi miễn phí thực sự là miễn phí và đây là mô hình mới, hầu hết số này có tính trực tuyến, nơi mà kinh tế số thống trị với mức phí tiến dần bằng không.

Các dạng miễn phí nói trên đều chỉ là biến thiên của một mô hình chung: điều chuyển tiền vòng quanh từ sản phẩm này sang sản phẩm khác, từ người này sang người khác, giữa hiện tại và tương lai, hoặc vào thị trường phí tiền tệ rồi trở ra. Các nhà kinh tế học gọi chúng là “hỗ trợ qua lại”.

Cả thế gian đều hỗ trợ qua lại

Hỗ trợ qua lại là tinh thần của thành ngữ “Không có gì là miễn phí” (There’s no such thing as a free luch – đừng hòng có bữa trưa mà không phải trả tiền). Điều đó có nghĩa là cách này hay cách khác sẽ có người trả tiền cho bữa trưa.
Hỗ trợ qua lại có thể diễn ra theo một vài hình thức khác nhau:
- Sản phẩm có chi phí bù cho sản phẩm miễn phí.
- Trả tiền sau, tài trợ cho miễn phí hiện tại, tiền sử dụng điện thoại hàng tháng trả cho chiếc điện thoại miễn phí ban đầu.
- Những người trả tiền, tài trợ cho những người miễn phí, đàn ông mua vé vào hộp đêm, có thể dẫn theo phụ nữ không phải trả tiền. Người lớn dẫn trẻ em vào vườn bách thú miễn phí nhưng rồi người lớn phải trả tiền cho những trò chơi của trẻ…

Mô hình miễn phí rơi vào một trong bốn loại sau:

1/ Hỗ trợ chéo trực tiếp
Cho không sản phẩm hoặc dịch vụ để khuếch trương và thu lợi các sản phẩm và dịch vụ khác (ví dụ về King Gillette, về điện thoại miễn phí).
2/ Thị trường ba bên
Đài phát thanh, truyền hình phủ sóng miễn phí, mạng internet, các đối tượng khách hàng dùng các phương tiện đó miễn phí nhưng các nhà quảng cáo sẽ trả tiền cho mọi thứ. Người tiêu dùng có cảm giác mặt hàng chính yếu mình đang quan tâm là miễn phí, nhưng cuối cùng họ cũng sẽ mất tiền một cách gián tiếp, qua mức giá sản phẩm cao hơn.
3/ Miễn phí giá cao
Năm 2009, Chris Anderson được đưa vào danh sách 50 nhà tư tưởng lớn của thế giới, cùng với những nhân vật như Steve Johs, Jack Welch, Bill Gate, Paul Krugman, Joseph Stiglitz, Michael Porter, Daniel Goleman, Thomas Freedman…

Với sản phẩm số, 5% khách hàng sẽ trả tiền cho 95% khách hàng còn lại, điều này có nghĩa là mỗi khách hàng trả tiền sử dụng phiên bản giá cao đầy đủ chức năng thì mười chín người khác được sử dụng phiên bản miễn phí ít chức năng hơn.

4/ Thị trường phi tiền tệ: Dạng này có vài hình thức:

Nền kinh tế quà tặng: Mười hai triệu bài viết trên wikipedia, hàng triệu món đồ đã qua sử dụng được rao trên Freecyete chỉ để cho tặng, bạn cho Google thông tin khi bạn sở hữu một website mở, bạn cho một kẻ vô gia cư những vật dụng mà anh ta nhặt từ thùng rác nhà bạn… Phương thức phân phối với chi phí bằng không đã biến việc chia sẻ trở thành một ngành kinh doanh, theo đó bạn sẽ được những giá trị như niềm vui, sự thỏa mãn, danh tiếng, và internet cung cấp một nền tảng cho phép hành động của từng cá nhân có thể gây ảnh hưởng toàn cầu.

Đổi công: Mỗi lần bạn tìm kiếm trên Google, bạn đã giúp Google cải thiện các thuật toán nhằm mục tiêu quảng cáo của họ. Dù bạn có nhận thức được hay không, bạn đã trả bằng công lao động của mình cho một thứ hàng miễn phí.

Vi phạm bản quyền: Âm nhạc trực tuyến thể hiện bằng việc chuyển đổi nhạc sang dạng số và chia sẻ chúng qua mạng, chi phí cho phổ biến âm nhạc thực sự chạm đáy, mọi biện pháp chống lại sự vi phạm bản quyền đã chào thua. Người nghệ sĩ phải chấp nhận thực tế đó, đối với họ, âm nhạc như một phương tiện tiếp thị, là niềm vui, xây dựng hình ảnh và danh tiếng.

Ba mức giá: Hầu như ta chỉ nói về hai mức giá trị: có phí và miễn phí, nhưng còn một mức giá thứ ba thấp hơn cả miễn phí, đó là mức giá âm: bạn được trả tiền để sử dụng một sản phẩm hoặc dịch vụ thay vì ngược lại. Trong hầu hết các trường hợp thì trước sau gì rồi bạn cũng bỏ tiền ra. Ví dụ: phần tiền được thưởng sau khi thanh toán đầy đủ tạo ra một tâm lý hoàn toàn khác so với việc phải trả một số tiền ít hơn ngay từ đầu.

LỊCH SỬ MIỄN PHÍ
Số 0
Khi người Ấn Độ phát minh ra môn đại số, họ mở rộng thêm số âm và số 0 từ thế kỷ IX. Từ “zero” trong ngôn ngữ Ấn là Sunya, có nghĩa là trống rỗng, người Ả Rập chuyển thành sifr, phương Tây Latin hóa nó thành zephirus, chính là gốc của từ zero.

Rắc rối của miễn phí

Đến năm 900, đã có đủ ký hiệu lẫn cơ sở đại số cho khái niệm “không” thì nó đã cùng tồn tại song song với khái niệm “economics”. Từ nguồn gốc Hy Lạp cổ, oikos (nhà) và nomos (tập quán hay luật lệ) do đó nó có ý nghĩa là “luật gia đình” và miễn phí luôn là luật trong nhà.

Từ khi nền kinh tế trên cơ sở tiền tệ hình thành, các giao dịch hầu như không liên quan đến giá cả mà dựa trên sự hào phóng, tin tưởng, thiện chí giữa các láng giềng và các nhóm xã hội. Vào thế kỷ XVII, khái niệm thuế lũy tiến ra đời, việc thành lập các thể chế nhà nước tạo ra một dạng miễn phí đặc biệt: bạn có thể không trả phí cho dịch vụ của chính quyền, nhưng bạn sẽ chẳng bao giờ biết chính xác bao nhiêu tiền thuế của mình được dùng để phục vụ trực tiếp cho bạn.

Bữa trưa miễn phí đầu tiên

Đến cuối thế kỷ XIX, nền kinh tế thị trường đã được thiết lập vững vàng, đồng tiền đã chứng tỏ mình là xúc tác cho tăng trưởng và là chìa khóa để đến với thịnh vượng. Đến thời kỳ mà King Gillette và Pearle Wait tạo dựng được cả gia sản từ miễn phí, khách hàng đã quen thuộc với câu “làm gì có bữa trưa miễn phí”.

Hàng mẫu, quà tặng và dùng thử

Vào đầu thế kỷ XX, miễn phí đã trở thành một mẹo bán hàng. Xà phòng Babbitt’s Soap trở nên nổi tiếng toàn quốc nhờ các chiến dịch quảng cáo và khuyến mãi, trong đó có đợt phân phối hàng dùng thử miễn phí trên quy mô lớn đầu tiên.

Free như một vũ khí cạnh tranh

Ngày nay, chúng ta biết rằng cách hủy diệt nhất để xâm nhập thị trường là phá hủy tính kinh tế của những mô hình kinh doanh đang tồn tại. Chẳng hạn không tính tiền sản phẩm đang là nguồn lợi nhuận chủ yếu của đối thủ.

Vụ đánh cược sai lầm của Ehrlick

Ý tưởng hàng hóa sẽ trở thành rẻ hơn chứ không đắt hơn theo thời gian là ngược với trực giác. Thực phẩm có thể tái tạo chứ khoáng sản thì không, chúng ta khai quặng càng nhiều thì còn lại càng ít, đó là điển hình của khan hiếm trong lúc dân số thế giới ngày càng gia tăng. Nhưng tháng 9/1980, Paul Ehrlick, một nhà sinh học dân số, và Julian Simon, một nhà kinh tế học, đã đánh cược với nhau một cách công khai với số tiền là 10.000 USD.

Simon tuyên bố: “Giá của các nguyên liệu khô mà nhà nước không kiểm soát sẽ không tăng trong dài hạn”. Ehrlick chọn năm kim loại là đồng, chrome, nickel, thiếc và tungsten. Mười năm sau, giá các kim loại đó đã giảm hơn một nửa - Simon đã thắng cược. Vì sao Simon thắng cược? Vì ông là một nhà kinh tế tài ba, hiểu được tác động của hàng hóa thay thế: Nếu một mặt hàng trở nên quá khan hiếm và đắt đỏ, đó sẽ là động cơ để tìm kiếm mặt hàng thay thế có nhiều hơn. Óc sáng tạo của loài người và khả năng rút kinh nghiệm trong khoa học và công nghệ sẽ có xu hướng tạo ra các nguồn lực mới nhanh hơn tốc độ sử dụng.

Mù lòa trước dư dả

Điều hiển nhiên là Simon có nhiều cơ hội thắng cuộc hơn. Nhưng khuynh hướng để ý đến những thứ khan hiếm hơn là thừa thãi xuất hiện. Ví dụ tiêu biểu nhất là plastic: người ta bán thế hệ chất dẻo plastic đầu tiên không phải như chất dùng xong rồi bỏ, nhưng thế hệ thứ hai của plastic với Vinyl và Polystyrene thì rẻ đến nỗi người ta có thể dùng xong rồi vứt đi mà không phải bận tâm chút nào.
Sau thập niên 70, thái độ đối với siêu thừa thãi như vậy đã bắt đầu thay đổi. Chi phí xử lý môi trường phải trả cho văn hóa tiêu dùng một lần rồi bỏ đã trở nên rõ ràng hơn. Cho nên, một thế hệ mới bắt đầu công việc tái chế đồ bỏ đi.

Sự thừa thãi lên ngôi

Câu chuyện của thế kỷ XX là câu chuyện sự thay đổi ghê gớm về mặt xã hội và kinh tế do sự dư dả dẫn dắt. Tương tự như việc nước luôn luôn chảy xuôi, tính kinh tế chảy về phía có sự dư thừa. Những công ty tìm kiếm lợi nhuận phải ngược dòng tìm kiếm sự khan hiếm mới, điều đó Tim O’Reilly gọi là “ định luật bảo toàn mức lợi nhuận hấp dẫn”. Ngày nay, chỉ còn 32% công ty chế tạo ra sản phẩm cầm nắm được. Các công ty còn lại chuyển qua cung cấp dịch vụ, tạo ra sản phẩm sở hữu trí tuệ, tạo ra thị trường cho sản phẩm của những người khác.

Một vài thập kỷ trước, giá trị lớn nhất nằm trong sản xuất. Sau đó toàn cầu hóa nằm trong sản xuất. Ngày nay mức lợi nhuận cao nhất thường thấy ở những nơi chất xám kết hợp với vật chất. Sự kết hợp giữa kiến thức, kỹ năng và tư duy trừu tượng là điều làm nên một người lao động tri thức có hiệu quả.

KHOA HỌC TÂM LÝ VỀ MIỄN PHÍ

Nếu có thứ gì đó trước đây phải mất tiền mua, còn nay thì không, chúng ta có xu hướng đồng hóa hiện tượng đó với suy giảm chất lượng. Nhưng đối với những thứ chưa bao giờ phải mất tiền mua, chúng ta không suy nghĩ tương tự.

Kẽ hở tí hon

Trong hầu hết các trường hợp, chỉ một xu - một mức giá thường được coi như vô nghĩa - cũng có thể ngăn đại đa số người tiêu dùng lại. Vì bộ não của chúng ta được thiết kế để báo động mỗi khi chúng ta gặp phải một cái giá, lời báo động là “có đáng không nhỉ?”. Và chúng ta có xu hướng lựa chọn những thứ đòi hỏi ít phải suy nghĩ nhất. Theo cách nhìn của khách hàng, giữa rẻ và miễn phí có một khoảng cách vô cùng lớn.

Giá của miễn phí

Hầu hết các giao dịch có ưu điểm lẫn nhược điểm, nhưng khi có thứ gì cung cấp miễn phí, chúng ta sẽ quên mất nhược điểm của nó. Đó là vì người ta có bản chất sợ thiệt thòi. Khi nhận được cái gì đó miễn phí, bạn không hề phải đối diện với một khả năng bị mất mát nào cả, nhưng khi bạn chấp nhận một thứ không miễn phí, xác xuất chịu mất mát xuất hiện.

Không chi phí, không cam kết

Miễn phí có thể khuyến khích thói tham ăn, vơ vét, tiêu dùng thiếu suy nghĩ, tội lỗi và lòng tham. Chúng ta lấy đồ vì chúng có sẵn đó chứ không phải vì chúng ta cần. Cứ áp một mức giá, dù rất thấp chăng nữa, cũng sẽ khuyến khích hành vi có trách nhiệm hơn. Miễn phí là cách tốt nhất để tối đa hóa số người có thể tiếp cận với sản phẩm, dịch vụ, nhưng không phải đó là cái đích cuối cùng bạn nhắm tới, nó có thể gây ảnh hưởng tiêu cực. Như một công cụ mạnh khác, miễn phí phải được sử dụng cẩn thận bằng không thì lợi bất cập hại.

Phương trình thời gian / tiền bạc

Tại một thời điểm nào đó trong đời, bạn có thể tỉnh dậy và nhận ra rằng bạn có nhiều tiền hơn thời gian, rồi bạn cũng nhận ra rằng mình cần bắt đầu làm khác đi. Bạn trả tiền cho thứ gì đó để giảm bớt rủi ro vì giá cả đi liền với đảm bảo, trong khi miễn phí thì không.

Miễn phí lại có tác dụng tuyệt vời khi đi cùng với trả tiền. Nó có chỗ cho những tâm lý thay đổi của những khách hàng khác nhau, từ những người có nhiều tiền hơn thời gian cho đến những người nhiều thời gian hơn tiền bạc.

Đầu óc vi phạm bản quyền

Vi phạm bản quyền là một hình thức trộm cắp đặc biệt, thường bị những kẻ vi phạm cũng như những người tiêu thụ hàng hóa vi phạm bản quyền coi hành vi vi phạm nhưng không có nạn nhân.

Lập luận của họ là hàng hóa vi phạm hiếm khi thay thế được hàng hóa hợp pháp. Thay vào đó, nó cho phép sản phẩm tiếp cận với những người không đủ tiền mua hàng hợp pháp hoặc có tiền nhưng không chịu mua hàng hóa hợp pháp.

Cliff Harris tạo ra các trò chơi điện tử với mức giá 20 dollar nhưng lập tức các trò chơi của ông vi phạm bản quyền. Ông nghiên cứu, tìm hiểu và nhận ra rằng, người sử dụng đánh giá sản phẩm của ông thấp hơn ông tưởng, ông nghĩ mọi nỗ lực đảo ngược vấn đề là vô ích. Harris giảm giá các trò chơi của mình còn một nửa, nâng cao chất lượng trò chơi, làm gian hàng trên mạng của mình dễ sử dụng hơn để cạnh tranh với miễn phí.

MIỄN PHÍ KỸ THUẬT SỐ

Quá rẻ nên chẳng đáng quan tâm

Vào năm 1954, Lewis Strauss dự đoán những điều vĩ đại sẽ đến: bệnh tật sẽ bị khuất phục, con người di chuyển vượt đại dương, du hành trên không với vận tốc khổng lồ, chúng ta sẽ dùng điện với giá rất rẻ đến nỗi không phải mất công đo đếm… sẽ thay đổi thế giới .

Và thực sự khi khoa học và kỹ thuật bùng nổ sau chiến tranh, kinh tế tăng trưởng với mức độ chưa từng thấy, nhưng điện năng thì không rẻ đến mức có thể bỏ qua không cần đo đếm. Ngày nay có 3 công nghệ khác cũng có ý nghĩa đối với nền kinh tế với mức độ tương đương điện năng, đó năng lực xử lý của máy tính, lưu trữ kỹ thuật số và băng thông. Cả ba đang ngày càng rẻ đến nỗi người ta không phải bận tâm.

Đón rẻ

Khi chi phí mặt hàng bạn sản xuất giảm đều đặn, bạn có thể áp dụng cơ chế giá mà thoạt nhìn có thể coi là điên rồ. Thay vì bán nó với mức phí ngày hôm nay, bạn có thể bán nó với mức phí của ngày mai. Kevin Kelly gọi đó là “đón rẻ”. Chẳng hạn đầu thập niên 1960, hãng Fairchild Semiconductor đang bán những con transistor đầu tiên với mức giá 100 USD. Họ hiểu rằng sản lượng tăng chi phí sẽ giảm nhanh chóng, họ dùng chiến thuật đi trước triển vọng giảm giá, họ đặt mục tiêu với mức giá 1,05 USD, sau đó 50 cent mà vẫn thu được lợi nhuận, họ bảo “chúng tôi bán vào tương lai”.

Tại sao định luật Moore phù hợp với thực tế?

Hầu hết các quy trình sản xuất công nghiệp ngày càng cải thiện và diễn tiếp theo hiện ứng được biết đến với tên gọi là đường học tập (Learning curve), nhưng chỉ các quy trình đặt nền tảng trên chất bán dẫn là cải thiện nhanh hơn và duy trì lâu hơn. Về mặt kinh tế, đầu vào của sản phẩm bán dẫn hầu như tuyệt đối là trí tuệ thay vì vật chất. Ý tưởng là thứ hàng hóa thừa thãi sau cùng, có thể phát tán với mức chi phí biên bằng không, ý tưởng tự nó muốn được truyền bá rộng rãi, làm sung túc thêm cho mọi thứ khi nó chạm đến. Bản quyền được đặt ra như nỗ lực ngăn cản dòng chảy tự nhiên của ý tưởng, nhưng rồi bằng phát minh sáng chế cũng hết hạn, ý tưởng không thể che giấu mãi mãi.

Sản phẩm được tạo ra từ ý tưởng thay vì từ vật chất rẻ đi nhanh chóng hơn. Đây là gốc rễ của sự thừa thãi, điều dẫn tới miễn phí trong thế giới kỹ thuật số mà ngày nay chúng ta nói ngắn gọn là định luật Moore.

Định luật Mead

Gordon Moore nói rằng: “Nếu năng lực của máy tính ở một mức giá nhất định tăng gấp đôi sau mỗi hai năm, thì chi phí cho mỗi đơn vị năng lực tính toán phải giảm đi một nửa trong cùng khoảng thời gian đó”. Giống như Moore, Mead thấy rằng việc năng lực tăng gấp đôi sau mỗi mười tám tháng sẽ còn tiếp tục lâu dài vì nó được dẫn dắt bởi đường học hỏi và đường kinh nghiệm mà ông gọi là “đường kinh nghiệm kép”. Điều mà Mead nhận ra là hiệu ứng kinh tế này mang theo nó một mệnh lệnh tinh thần. Nếu Transistor đã trở nên quá rẻ, ông bảo các lập trình viên hãy phí phạm nó đi.

Con chuột cất tiếng rống

Kỹ sư Alan Kay phát triển một mẫu máy tính - Dynabook - có thể tận dụng các mạch silicon làm những chuyện vui vẻ trên màn hình như vẽ, định hướng con trỏ bằng chuột… Điều Kay nhận ra là làm cho công nghệ thật rẻ, dễ sử dụng và phổ biến để ai cũng có thể dùng được, để rồi nó có mặt khắp thế giới. Nhờ phí phạm transistor như vậy mà thế giới đã thay đổi.

Sắt và kính

Câu chuyện về chất bán dẫn đã trở thành huyền thoại của nền kinh tế kỹ thuật số. Sự thật là hai công nghệ có liên quan là không gian lưu trữ và băng thông đã vượt qua nó trong cuộc đua xuống đáy. Chiếc đĩa lưu trữ làm bằng sắt có thể giữ được từ trường mạnh, và ngành khoa học trung tâm ở đây là quang học. Tuy nhiên, tỷ lệ chất xám trên vật chất là mức cao, do đó các sáng kiến đổi mới thường xuất hiện để tái khởi động chu kỳ cải tiến kỹ thuật.

Điều thừa thãi có thể tạo ra

Băng thông rẻ đến mức không phải bận tâm nữa mang lại cho chúng ta Youtube. Nó nhanh chóng cách mạng hóa ngành truyền thông. Không gian lưu trữ rẻ đến mức không còn đo đếm đã mang đến cho chúng ta Gmail với dung lượng hộp thư không giới hạn, chưa nói đến Tivo, Flicks, Myspace và Ipod. Apple gia tăng dung lượng của đĩa cứng mà vẫn giữ nguyên giá và tốc độ nhanh hơn cho nhu cầu lưu trữ âm nhạc. Toshiba sẽ sớm sản xuất loại đĩa cứng cỡ 1,8inch lưu trữ được 5 gigabyte.
Giờ thì sự kết hợp cả ba công nghệ - xử lý, lưu trữ và băng thông - đã tạo ra web, sự thừa thãi đã nhân gấp bội.

“THÔNG TIN MUỐN TRỞ THÀNH MIỄN PHÍ”

Lịch sử một tuyên ngôn của thời đại số Steven Levy liệt kê bảy “triết lý của hacker”:
1. Việc tiếp cận với máy tính - và mọi thứ có thể dạy bạn chút gì đó về cách thức vận hành của thế giới - là không hạn chế và toàn diện.
2. Luôn luôn tuân theo niềm thôi thúc tự mình làm lấy!
3. Mọi thông tin cần được tự do.
4. Nghi ngờ quyền lực - cổ vũ cho phân quyền.
5. Đánh giá một hacker dựa trên khả năng thâm nhập như bằng cấp, tuổi tác, chủng tộc hoặc địa vị.
6. Chúng ta có thể tạo ra nghệ thuật và cái đẹp từ một chiếc máy tính.
7. Máy tính có thể làm cuộc đời ta tốt đẹp hơn.

CẠNH TRANH VỚI MIỄN PHÍ

Ngày 3/3/1975, Bill Gates của Microsoft viết “Thư ngỏ gửi những kẻ đánh cắp phần mềm”. Ông cảnh báo nếu việc này còn tiếp diễn, ông sẽ không thể viết phần mềm mới và mọi người sẽ cùng chịu thiệt.
Nhưng việc sao chép bất hợp pháp không bao giờ biến mất hoàn toàn, khi phần mềm chuyển từ các đĩa mềm khó sao chép sang CD, việc sao chép bất hợp pháp bùng nổ. Microsoft thêm mã an ninh trên gói sản phẩm với tem có hình ảnh ba chiều, kiện tụng, tuyên truyền đánh động, ngoại giao. Nhưng tình hình vẫn không thể kiểm soát nổi, nhất là ở các nước đang phát triển. Gates nói: “Dù sao thì một ngày nào đó họ sẽ trả, và khi họ còn ăn cắp thì chúng tôi muốn họ ăn cắp phần mềm của mình, họ sẽ trở nên nghiện và rồi chúng tôi sẽ tìm ra cách nào đó thu tiền vào thập kỷ tới”.

Dùng thử miễn phí

Trong thập niên 1990, các đối thủ cạnh tranh với Microsoft như WordPerfect office và Lotus Smartsuite chỉ yêu cầu các nhà sản xuất máy tính cá nhân phải trả một mức phí rất thấp để phần mềm của họ được đóng gói bán chung với máy tính mới. Gates quyết định đáp trả. Microsoft phát triển phiên bản giảm bớt tính năng của bộ office, được gọi là Microsoft works, và chỉ thu 10 dollar từ nhà sản xuất máy tính để bán kèm với bộ máy tính mới. Mức giá này cạnh tranh có hiệu quả, bởi vì works tương thích về định dạng file với bộ office đầy đủ, đây là cách để giữ người tiêu dùng trong phạm vi ảnh hưởng của Microsoftt. Công ty nhanh chóng phát triển trình duyệt miễn phí của riêng mình, internet explorer và gộp nó vào cùng mọi phiên bản hệ điều hành của công ty. Chiến lược này đã đạt kết quả mong muốn. Các viên chức chống độc quyền đã tố cáo công ty đã “trói” một sản phẩm miễn phí vào một sản phẩm mới trả tiền. Microsoft đã phải trả giá bằng hàng thập kỷ bị kiện cáo độc quyền và phải nộp phạt bởi hành vi chống lại tự do cạnh tranh.

Cuộc tấn công của chim cánh cụt

Lim Torvalds thực hiện một dự án khiêm tốn để tạo ra một biến thể đơn giản của hệ điều hành Unix mà ông gọi là Linux. Nhờ có mã lệnh tốt, tính cách lôi cuốn và kỹ năng tổ chức của người đứng đầu và quan trọng nhất là web đã trở thành phương tiện cho hợp tác toàn cầu, Linux đã cất cánh.
Từ cuối những năm 1990, trong nội bộ Microsofl thì Linux chỉ được coi như thêm một con muỗi quấy rầy nữa, không nghiêm trọng đến mức phải điều chỉnh chiến lược. Tại sao Microsofl phải mất rất nhiều thời gian mới nhận ra mối đe dọa? Năm giai đoạn đau đớn được Elisabeth Kybles-Ross kể như sau:

Giai đoạn 1: Chối bỏ

Microsoft làm gì trong thập kỷ đầu tiên của Linux? Chủ yếu là hy vọng hệ điều hành miễn phí này sẽ biến mất như hầu hết các phần mềm miễn phí trước đó. Microsoft thấy bối rối là tại sao khách hàng lại muốn dùng phần mềm miễn phí và rước mọi rắc rối đi cùng sản phẩm đó? Những người điều hành Microsoft coi nguồn mở chỉ là một thứ bị thổi phồng quá đáng. Các dự án phức tạp trong tương lai sẽ đòi hỏi các nhóm lớn và vốn đầu tư lớn mà đối thủ sẽ không thể nào thích hợp.

Giai đoạn 2: Tức giận

Microsoft quyết định lấy kinh tế làm chiến lược tấn công. Chi phí thực sự của phần mềm không phải là giá mua mà là chi phí duy trì. Microsoft công bố tài liệu “Năm chuyện hoang đường của Linux”, liệt kê những khuyết điểm kỹ thuật, tính năng, miễn phí thì không thực sự miễn phí, các nhà quản trị hệ thống Linux phải bỏ rất nhiều thời gian để hiểu những lỗi kỹ thuật đó. Tuy nhiên, những cáo buộc của Microsoft không có tác dụng. Giám đốc quan hệ công chúng tuyệt vọng: “Chúng ta phải phản ứng có hiệu quả hơn trước những thông tin báo chí về việc chính phủ và các tổ chức lớn đang xem xét các lựa chọn (nguồn mở) khác thay vì sản phẩm của chúng ta…”.

Giai đoạn 3: Mặc cả

Đến thời điểm của Linux world 2002, Microsoft đã rõ là họ cần có một chiến lược mới. Một cán bộ của Microsoft phát biểu: “Như thực tế trong quá khứ, mọi thứ chúng tôi nói chỉ đào huyệt chôn mình sâu hơn…”. Tại Linux world, các đại diện của Microsoft mặc áo có dòng chữ “Hãy đối thoại”.

Giai đoạn 4: Suy sụp

Năm 2003, họ thuê Bill Hilf, người từng điều hành chiến lược Linux thành công của IBM. Khi nói chuyện với các kỹ sư, Hilf nhận ra: “Rõ ràng là họ chẳng biết gì về nguyên lý vận hành nguồn mở, có một sự hiểu nhầm khủng khiếp - họ chỉ thấy nó như một đe dọa”.

Hilf muốn xây dựng một phòng thí nghiệm nguồn mở tại Microsoft, nó bị coi như một cơ sở có nguy cơ rủi ro sinh học. Những ai làm việc với nguồn mở không thể làm việc trong bất kỳ dự án nào khác của Microsoft.

Giai đoạn 5: Chấp nhận

Phòng thí nghiệm của Hilf hoạt động. Điều gì đã thay đổi? Đó là tính thực tế của cấp lãnh đạo, Gates và Ballmer. Đã đến lúc Microsoft phải thích nghi đảm bảo rằng phần mềm của họ chạy được với nguồn mở và ngược lại.

Thị trường đã quyết định rằng, có chỗ cho cả ba mô hình: hoàn toàn miễn phí, miễn phí phần mềm nhưng phải trả tiền cho hỗ trợ, và trả tiền cho mọi thứ.

Yahoo đấu với Google

Yahoo là nhà cung cấp dịch vụ thư điện tử trên web lớn nhất, với khoảng 125 triệu người sử dụng. Đó là một công việc béo bở.

Ngày 1/4/2004, Google thông báo về một dịch vụ thư điện tử mới trên web gọi là Gmail với dung lượng lưu trữ 1 Gigabyte miễn phí - gấp 100 lần con số của Yahoo. Google chưa có khách hàng dùng thư điện tử, nên họ đề xuất dịch vụ với dung lượng lớn như vậy thì chỉ cần vài máy chủ có thể chăm lo được cho vài ngàn khách hàng đầu tiên.

Muốn giữ vị trí hàng đầu, Yahoo phải đưa ra đề nghị hấp dẫn hơn nữa. Đến năm 2007, Yahoo tung hết chiêu, công bố không giới hạn hộp thư điện tử miễn phí. Cuối cùng chiến lược đã phát huy hiệu quả. Yahoo không mất đi thị phần quan trọng. Nhưng Google vẫn chưa bó tay, họ chỉ mới bắt đầu cuộc đua.

LOẠI TIỀN RA KHỎI CUỘC CHƠI

Google và sự ra đời của một mô hình kinh tế thế kỷ XXI

Ngày nay, Google có gần 100 sản phẩm từ phần mềm chỉnh sửa ảnh cho đến chương trình xử lý văn bản và bảng tính, và hầu hết là miễn phí. Miễn phí thực sự, không thủ đoạn gì hết. Google thực hiện theo cách mà bất kỳ công ty số hiện đại nào cũng nên làm: cho không thật nhiều sản phẩm để kiếm tiền từ một số ít.

Google kiếm được rất nhiều tiền từ quảng cáo trên một vài sản phẩm then chốt. Google luôn đặt câu hỏi về chất lượng chứ không phải về tiền. Miễn phí không chỉ là một bước đệm trên con đường đi đến một mô hình kinh doanh mà là cốt lõi trong triết lý sản phẩm của công ty.

Năm 1999-2001, Google phát minh ra cách tìm kiếm cho kết quả ngày càng tốt hơn. Cho phép khách hàng “tự phục vụ” bằng cách tự tạo ra các quảng cáo thích hợp, tạo ra vô số sản phẩm phục vụ, đưa ngày càng nhiều chức năng trước đây chạy trên máy để bàn lên “đám mây” (cloud). Đó là trung tâm dữ liệu của Google - một tòa nhà khổng lồ với hàng chục ngàn bảng mạch công nghệ kết hợp lại - xử lý, băng thông và lưu trữ. Ngày nay, ước tính Google có khoảng nửa triệu máy chủ trải trên hơn 36 trung tâm dữ liệu.

Chiến lược tối đa

Tại sao Google coi miễn phí là mặc định? Bởi vì, đó là cách tốt nhất để tiếp cận một thị trường lớn nhất có thể và được số đông chấp nhận. Schmidt gọi đó là “chiến lược tối đa” của Google.
Mỗi bài viết trên blog xuất hiện là chương trình quét của Google sẽ tạo chỉ mục để giúp Google xuất ra kết quả tìm kiếm tốt hơn. Đại đa số nhân viên của Google đang trăn trở tìm ra những sản phẩm mới để cho đi.

Google muốn thông tin được tự do bởi vì khi chi phí cho thông tin giảm xuống thì họ kiếm được nhiều tiền hơn.

CÁC MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG MỚI

Năm 1925 - buổi bình minh của ngành kinh doanh radio cho mục đích thương mại - là khởi đầu của văn hóa đại chúng thế kỷ XX. Chỉ có một vấn đề: không ai biết trả tiền cho những nội dung đó bằng cách nào, hoặc do những nhà sản xuất máy thu sóng radio trả tiền, hoặc khán thính giả phải đóng thuế hàng năm cho radio và TV họ sử dụng. Đã có một số gợi ý là quảng cáo là giải pháp.

Một vài thập kỷ sau, cả truyền thanh và truyền hình đều có những chương trình không thu phí và được tài trợ nhờ quảng cáo.

Quảng cáo vượt lên trên các phương tiện

Khi hình thành các trang báo in, chúng tôi không để những mẫu quảng cáo gần nội dung biên tập để tránh những xung đột tai hại giữa các câu chuyện hoặc yếu tố nghệ thuật, chúng tôi còn phải xây dựng lòng tin nơi độc giả. Google làm chính điều ngược lại, thành công của Google nhờ ở chỗ nó kết hợp quảng cáo với nội dung. Điều đó rõ ràng là bản chất của quảng cáo là khác biệt trên môi trường trực tuyến.

Đoạn kết của nội dung phải trả tiền

Mạng băng thông rộng là dạng “phát sóng” mới và các mạng truyền hình cáp giá cao giam hãm người xem ngày nay dường như đang tàn lụi. Đó là do thị hiếu của thế hệ mới và do xu thế công nghệ. Lý do dẫn đến việc giới kinh doanh chuyển sang mô hình miễn phí là:

1. Cung và cầu (cung tăng rất nhiều lần mà cầu thì không, số trang của Faceboook tăng nhiều hơn số trang của Times và chúng được tạo ra không hề với ý định thu tiền người đọc).

2. Không còn dạng cụ thể nữa.
3. Tiếp cận dễ dàng.
4. Bước chuyển sang nội dung do quảng cáo trả tiền.
5. Ngành kỹ nghệ máy tính mong muốn nội dung trở nên miễn phí.
6. Thế hệ miễn phí.

Đó là lý do tại sao các mô hình tài trợ bằng quảng cáo chiến thắng trong môi trường trực tuyến và là nguyên nhân làm chúng tiếp tục chiến thắng.

Chiến thắng của mô hình phương tiện truyền thống

Chúng ta coi “thông tin truyền thống” bao gồm phát thanh, truyền hình, tạp chí, báo và các trang web. Cách tốt nhất đo lường ảnh hưởng của nó đối với xã hội là thông qua thời gian người ta dành cho nó. Đo theo cách này, ít loại nào có thể sánh được với trò chơi trực tuyến.
Các loại hình thành công nhất:
1. Bán các món đồ ảo
2. Đăng ký thành viên
3. Quảng cáo
4. Bất động sản ảo
5. Hàng lưu niệm.

Sách miễn phí
Cũng giống như mọi thứ áp dụng mô hình miễn phí khác. Sách miễn phí không phải là không gây tranh cãi. Nhưng thị trường cho sách kỹ thuật số - sách nói, ebook và bản tải xuống từ web - đang phát triển nhanh chóng, phần nhiều để thỏa mãn nhu cầu mà sách in không làm được.

Đối với những sách về đề tài kinh doanh, sách miễn phí thường theo mô hình như nhạc miễn phí có tác dụng như tiếp thị cho bài nói chuyện hoặc phiên tư vấn với chi phí cao.

QUI MÔ CỦA NỀN KINH TẾ MIỄN PHÍ

Miễn phí đâu phải là tiền bạc

Bỏ qua việc sử dụng miễn phí như một mẹo tiếp thị, miễn phí bao trùm toàn bộ nền kinh tế. Hãy điểm qua một vài dạng miễn phí: Toàn bộ nội dung và dịch vụ trực tuyến và phi trực tuyến có quảng cáo tài trợ tại Hoa Kỳ ước từ 80 đến 100 tỷ dollar; loại hình một vài khách hàng có trả tiền trợ giá cho khách hàng miễn phí ước khoảng 800 triệu dollar vào 2008; thị trường trò chơi không thường xuyên có giá trị khoảng 3 tỷ dollar; nền kinh tế quà tặng không thể ước lượng giá chính xác... Tóm lại, miễn phí của một nền kinh tế quốc gia không hề nhỏ.

KINH TẾ HỌC MIỄN PHÍ VÀ THẾ GIỚI MIỄN PHÍ

Econ 000

Năm 1838, Antoine Cournot xuất bản quyền Rechers. Trong đó nói rằng, nếu một nhà máy sản xuất đĩa và một công ty khác cũng muốn mở ra nhà máy sản xuất đĩa thì hai công ty này sẽ điều chỉnh sản lượng để giữ giá bán càng cao càng tốt. Quyển sách của ông không được đánh giá cao.

Sau này Bertrand nhận định khác hơn, thay vì hạn chế sản lượng để tăng giá và lợi nhuận, các công ty sẽ giảm giá để tăng thị phần. Bertrand nói: “Trong một thị trường cạnh tranh, giá sẽ giảm xuống bằng với chi phí biên”.

Sau này các nhà kinh tế học mới kết luận rằng: các thị trường thừa thãi có thể dễ dàng tăng sản lượng, giá cả thường xuống bằng chi phí biên.

Nếu qui luật là “giá giảm xuống mức chi phí biên" thì miễn phí không còn là một phương án, nó là điều kết thúc không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, yếu tố quyết định giá cả không phải chỉ là chi phí biên mà là lợi ích biên”.

Độc quyền không còn như xưa nữa

Mô hình của Bertrand chỉ nhắm tới chi phí vật chất. Trong ngành sản xuất phần mềm và nhiều ngành khác nữa, giá trị của sản phẩm hầu hết nằm ở mặt trí tuệ và ngành công nghiệp này hưởng lợi từ cái gọi là “lợi nhuận gia tăng”. Chiến lược bóp chết cạnh tranh không còn hiệu quả như trước nữa, tệ sao chép đã trở nên phổ biến. Ở bất kỳ thị trường nào thì miễn phí luôn là điều hấp dẫn, nhưng kiếm được tiền từ miễn phí là vấn đề của tư duy, sáng tạo và thử nghiệm liên tục.

Miễn phí chỉ là một phiên bản khác

Ý tưởng cơ bản đằng sau việc tạo ra các phiên bản là bán sản phẩm giống nhau cho khách hàng khác nhau ở các mức giá khác nhau. Vào giờ vàng, người ta bán bia với giá rẻ hy vọng rằng một số khách hàng sẽ ngồi lại và tiếp tục uống khi bia được bán với giá bình thường.

Những kẻ bám càng không còn là mối bận tâm

Nếu hỏi liệu Wikipedia có sống sót được không? Người ta sẽ trả lời: “Không được, vì không có lợi nhuận. Ai cũng muốn hưởng mà không phải đóng góp. Họ sẽ dùng nếu nó có, những sẽ không ai tạo ra nó bởi vì vấn đề bám càng (xài chùa)”.

Trong môi trường trực tuyến, chỉ cần 1% người tham gia đóng góp, số đông người tiêu dùng thụ động chính là phần thưởng cho những người đóng góp, chứ không còn là vấn nạn. Số lượng độc giả khổng lồ là một trong những điều có sức thuyết phục nhất để một người quyết định trở thành biên tập viên cho Wikipedia.

CÁC KHU VỰC KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG

“Mọi sự thừa thãi đều tạo ra một khan hiếm mới”. Chúng ta có khuynh hướng coi trọng những thứ chúng ta không thật dồi dào. Nhưng khát vọng của loài người sẽ ra sao nếu có thật nhiều bánh mì và dạ dày của hắn luôn được chèn chặt? Câu trả lời là “lập tức các nhu cầu khác (cao hơn) xuất hiện và chúng chế ngự cơ thể thay cho những cơn đói sinh lý”.

Một khi nỗi khát khao thông tin và giải trí cơ bản đã được thỏa mãn, người tiêu dùng thụ động biến thành người sản xuất chủ động.

Trong môi trường trực tuyến, sản phẩm được mã hóa thành phần mềm, mời gọi sử dụng miễn phí thì tiền bạc không còn là tín hiệu quan trọng nhất nữa. Thay vào đó, hai yếu tố phi tiền tệ nổi lên thế chỗ là “nền kinh tế của sự quan tâm” và “nền kinh tế của danh tiếng”. Điều gì định nghĩa một “nền kinh tế”? Khái niệm dùng hiện nay là “khoa học về lựa chọn trong điều kiện khan hiếm”.

Ngày nay khi bạn kết nối với ai đó qua blog của mình thực tế bạn đã cho họ một ít danh tiếng của mình, sự chuyển giao danh tiếng này làm hai bên giàu có hơn. Có một thị trường danh tiếng thực sự - đó là Google. Đơn vị tiền tệ của danh tiếng trên môi trường trực tuyến chính là số lượng kết nối đến trang web. Và còn gì đo lường mức độ quan tâm tốt hơn là chỉ số về độ tấp nập của web?

Nền kinh tế quà tặng

Kinh tế quà tặng trở nên sống động và có thể đo đếm được khi nó xuất hiện trên môi trường trực tuyến dưới hình thức các hành vi, điều ta làm cho người khác mà không yêu cầu được đền đáp. Nguyên nhân không hẳn do bản tính vị tha. Lòng vị kỷ được thấu triệt là động lực mạnh mẽ nhất của nhân loại. Người ta làm việc miễn phí có thể vì nhiều lý do: cho vui, có điều gì đó cần thể hiện, muốn được người khác quan tâm, để phát triển cá nhân, vì cộng đồng. Nghĩa là khi người ta cảm thấy là một phần của cộng đồng và muốn cống hiến cho sự tồn tại và phát triển của nó.

(ĐÔI KHI) LÃNG PHÍ LÀ HAY

Khi tự nhiên phung phí sự sống

Bộ não chúng ta dường như được lập trình để cưỡng lại lãng phí. Chúng ta quan tâm bảo vệ từng hậu duệ của mình, chúng ta áy náy với một món đồ chơi không thích hoặc thức ăn không dùng hết.
Tuy nhiên, phần còn lại của tự nhiên không như vậy. Một con cá ngừ đại dương có thể phát tán mười triệu trứng đã thụ tinh trong mùa đẻ trứng, có lẽ chỉ mười con sống đến lúc trưởng thành. Một triệu con chết mới có một con sống. Thiên nhiên phí phạm sự sống để có cuộc sống tốt hơn. Nguyên nhân tự nhiên lãng phí như vậy là vì chiến lược tàn sát là cách tốt nhất để làm điều mà các nhà toán học gọi là “khảo sát toàn bộ không gian tiềm năng”. Đó là cách chấp nhận lãng phí. Vứt đi quá nhiều có vẻ không hay, thậm chí quái lạ, nhưng đó là cách thích hợp để tận dụng sự thừa thãi.

Video về mèo cũng có chỗ của nó

Người ta thường kêu ca rằng Youtube không phải là mối đe dọa đối với truyền hình vì trên đó toàn những thứ “rác rưởi”. Rác rưởi hay không là trong con mắt của người xem. Tất cả các đoạn phim ngẫu nhiên trên Youtube chính là các hạt của hoa bồ công anh bay trong không gian và tìm kiếm một mảnh đất màu mỡ để đáp xuống. Theo cách nhìn đó, chúng ta đang “phung phí video” để tìm ra đoạn video tốt hơn, khám phá cái không gian tiềm tàng trong phim ảnh. Điều này dẫn đến sự khác biệt giữa lối tư duy về thừa thãi và khan hiếm.

Quản lý sự khan hiếm

Mô hình Youtube là hoàn toàn miễn phí, nhưng nó không làm ra tiền. Huhu thì cho xem miễn phí và bạn phải trả giá theo cách cổ điển khi xem các đoạn quảng cáo, dù bạn muốn hay không. Tuy nhiên, nó lại tạo ra doanh thu khá. Hai trường hợp này minh họa sự đối đầu giữa các mô hình miễn phí thực sự trăm phần trăm, nhưng chút khan hiếm giả tạo lại là cách làm ra tiền tốt nhất.

THẾ GIỚI MIỄN PHÍ

Trung Quốc là chốn miễn phí tung hoành

Trung Quốc là nơi vấn đề vi phạm tác quyền thắng thế. Hàng năm qua, các cuộc truy quét thiếu nhiệt tình dưới sức ép ngoại giao của phương Tây không có một ảnh hưởng nào rõ rệt đối với những người bán hàng trên phố hay một số trang web. Ở Trung Quốc, bạn có thể có được hầu hết những thứ mình muốn mà chẳng mất tiền.

Thay vì chống lại nạn vi phạm tác quyền, thế hệ nhạc sĩ mới của Trung Quốc chấp nhận nó, vi phạm tác quyền là hình thức tiếp thị miễn phí, nhờ nó mà họ nổi tiếng và họ chuyển sự nổi tiếng thành tiền thế nào tùy ý. Sản phẩm vi phạm tác quyền ước tính chiếm đến 95% mức tiêu thụ ở Trung Quốc.

Nền kinh tế của nước hoa Chanel nhái

Hàng nhái và vô số đồ công nghệ giả liệu nhan nhản trong các cửa hàng, đường phố Trung Quốc. Như vậy, quyền sở hữu trí tuệ được miễn phí, bạn chỉ phải trả tiền (rất rẻ) cho các nguyên tử vật chất. Gốc rễ và hậu quả của việc vi phạm tác quyền lại sâu sắc hơn vẻ bề ngoài. Cái túi Gucci nhái vẫn thể hiện như một túi Gucci thật và nó hiện diện khắp nơi. Hệ quả có hai mặt: “tác động thay thế” - tiêu cực và “tác động kích thích” - tích cực. Người tiêu dùng hiểu rõ sự khác biệt giữa hàng thật và hàng nhái, và sẽ chọn hàng thật khi họ đủ tiền. Một phụ nữ trẻ nhận định: “Nếu bạn mặc thật nhiều hàng nhái hoặc có nhiều túi xách hàng giả, những người bạn của bạn sẽ biết, do đó bạn chẳng lừa được ai cả. Thế thì mua hàng thật còn hơn”.

Vi phạm tác quyền không hủy diệt thị trường, nó kích thích thị trường bùng nổ phục vụ làn sóng người tiêu dùng trung lưu đang xuất hiện. Hai sản phẩm, thật và giả, đơn giản là nhằm vào các phân khúc thị trường khác nhau.

Quyền lực của những người bán rong Brazil

Giống như ở Trung Quốc, trên các đường phố Brazil, những người bán hàng rong giới thiệu những đĩa CD không phải là hàng chính thức của một hãng đĩa nổi tiếng nào mà là những sản phẩm do nhóm họ sản xuất, tuy nhiên, lại hợp pháp.

Khi có buổi biểu diễn của một ca sĩ hoặc ban nhạc nổi tiếng nào đó đến địa phương, thì những người bán hàng rong là nhóm tiền trạm, tiếp thị, tổ chức, quảng cáo đầu tiên. Họ ghi hình, sản xuất đĩa CD, DVD bán ngay tại chỗ. Chín mươi phần trăm số ban nhạc không có hợp đồng ghi âm và cũng không đầu quân cho nhãn đĩa nào cả, họ không cần điều đó. Cho người khác nhạc của mình miễn phí tạo ra một ngành kinh doanh lớn đến mức mô hình thu phí không thể nào đạt được.

HÌNH DUNG VỀ THỪA THÃI

Mọi tác giả tiểu thuyết khoa học viễn tưởng đều biết luật bất thành văn: bạn chỉ có thể phá vỡ những định luật vật lý một hoặc hai lần trong mỗi câu chuyện. Triết thuyết khoa học viễn tưởng là thứ mà nhà văn Clive Thompson gọi là “cứ điểm cuối cùng của triết lý”. Tình yêu sẽ thay đổi ra sao nếu chúng ta sống đến 500 tuổi? Nếu chúng ta có thể du hành trở về quá khứ để đảo ngược những quyết định trước đây, bạn có làm không? Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn đối đầu nói chuyện hoặc giết chết Thượng đế? Khi máy móc làm hết mọi việc, điều gì là động lực của chúng ta? Khan hiếm khi kết thúc sẽ làm chúng ta lười nhác, suy đồi, ngu ngốc và tầm thường.

Tôn giáo là lĩnh vực có những ví dụ vĩ đại nhất về các tình thế cực đoan do thừa thãi hoặc khan hiếm tạo ra. Thiên đường là hình ảnh tuyệt vời về thừa thãi: Thiên thần lướt trên những đám mây mịn màng, chơi đàn hạc và không màng đến nhu cầu về vật chất; người chết trở nên thanh khiết, huy hoàng và hoàn hảo; mọi khiếm khuyết về cơ thể được rũ bỏ… Phải chăng kết cuộc không thể tránh khỏi là khi khan hiếm biến mất thì động lực cũng bị triệt tiêu?

Về mặt kinh tế, thừa thãi là động lực cho đổi mới và tăng trưởng. Nhưng về mặt tâm lý, khan hiếm chính là thứ chúng ta thực sự thấu hiểu.

TIỀN NÀO CỦA NẤY

Những nghi ngờ về miễn phí

Mười bốn điều phản bác lại kinh tế dựa trên miễn phí thường nghe nhất:

1. Làm gì có bữa trưa miễn phí: Quan niệm này khẳng định một cá nhân hay một xã hội không thể nhận được thứ gì đó mà không phải trả tiền. Kinh tế học ít nhất ở dạng lý tưởng, tuân theo qui luật bảo toàn vật chất: có vào thì phải có ra.

2. Miễn phí luôn đi kèm với những chi phí ẩn/miễn phí là một trò lừa đảo. Miễn phí đôi khi có ràng buộc. Hình ảnh quảng cáo làm trong web trở nên bừa bộn, chúng ta bị mồi chài rồi trở thành khách hàng trả tiền. Thực tế: Miễn phí của thế kỷ XXI cũng tốt như thu phí, hoặc tốt hơn nữa: không lừa, không bẫy, không ràng buộc.

3. Internet không thực sự là miễn phí vì bạn phải trả phí truy cập. Đây là một nhầm lẫn phổ biến. Hàng tháng chúng ta phải trả một món tiền để truy cập internet. Thực tế, số tiền này trả cho hạ tầng truyền dẫn, nó chẳng liên quan gì đến những thứ được truyền đi trên hạ tầng đó.

4. Miễn phí chỉ là trò quảng cáo. Thực tế: Thị trường phần mềm dùng thử miễn phí và trả phí để dùng phiên bản hoàn chỉnh đã tồn tại hàng thập kỷ, không dựa vào quảng cáo.

5. Miễn phí nghĩa là phải chịu quảng cáo nhiều hơn, cũng có nghĩa là tính riêng tư giảm xuống. Thực tế, hầu hết các trang web do quảng cáo dẫn dắt đều có chính sách đảm bảo sự riêng tư, ngăn cấm chuyển thông tin về người sử dụng cho người đăng quảng cáo.

6. Không chi phí = vô giá trị. Người ta cho rằng tiền là cách duy nhất đo lường giá trị. Nhưng người ta dựng trang web chủ yếu dựa trên hai đơn vị phi tiền tệ là sự quan tâm và danh tiếng. Cả hai có được là nhờ các nội dung và dịch vụ miễn phí.

7. Miễn phí hủy hoại cách tân. Người ta cho rằng miễn phí vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, nên người ta sẽ chẳng muốn sáng tạo nếu chẳng được gì. Giai đoạn bảo hộ sáng chế kéo dài 17 năm. Nhưng khi thời kỳ bảo hộ đã qua, sản phẩm trí tuệ đó trở thành thứ miễn phí.

8. Đại dương cạn kiệt, nhà vệ sinh công cộng tởm lợm và trái đất nóng lên là cái giá thực sự của miễn phí. Trong thế giới của các bit thông tin, chi phí môi trường còn lâu mới là vấn đề quan trọng. Hoang phí về năng lượng xử lý, lưu trữ và băng thông về cơ bản sẽ qui về chi phí điện năng. Nhưng cuối cùng họ đã đặt các trung tâm dữ liệu gần nguồn năng lượng mặt trời, phong điện và địa nhiệt năng để đảm bảo không gây hậu quả môi trường như các nguyên tử vật chất phí phạm.

9. Miễn phí sẽ khuyến khích chuyện vi phạm bản quyền. Ngược lại, chính vi phạm bản quyền thúc đẩy miễn phí.

10. Miễn phí nuôi dưỡng một thế hệ không trân trọng bất cứ điều gì. Thực tế, giới trẻ có thể phân biệt được giữa thực và ảo, và chúng ứng xử khác biệt phù hợp trong từng hoàn cảnh.

11. Không thể địch lại miễn phí. Thực tế, chúng ta có thể dễ dàng cạnh tranh với miễn phí, đơn giản là đưa ra được sản phẩm tốt hơn hay chí ít là khác biệt so với phiên bản miễn phí.

12. Cho không sản phẩm của mình mà chẳng kiếm được tiền. Trường hợp Paulo Coelho, ông đưa tác phẩm nổi tiếng của mình lên dịch vụ trao đổi tập tin ngang hàng miễn phí như Bit Torrent. Nhờ vậy ông bán được rất nhiều sách .

13. Miễn phí chỉ tuyệt diệu nếu có ai đó đang trả tiền. Thực tế, người khác trả tiền, nhưng họ trả tiền cho phiên bản cao cấp so với phiên bản bạn nhận được miễn phí.

14. Miễn phí hy sinh chất lượng. Nếu nhà báo chuyên nghiệp chứng kiến công việc của mình biến mất thì họ phải sáng tạo lại chính mình một cách mạnh mẽ hơn, từ đó có thể xuất hiện nhiều nhà báo hơn chứ không phải ít đi vì khả năng tham gia làm báo đã mở rộng ra ngoài. Báo chí chuyên nghiệp sẽ chia sẻ sân chơi với loại hình báo chí như thú tiêu khiển.

KẾT

Năm 2001, thị trường chứng khoán sụp đổ. Một vài năm sau thị trường hồi phục và chúng ta nhìn lại, chúng ta ngạc nhiên phát hiện rằng trên thực tế không thể tìm thấy ảnh hưởng của sự sụp đổ ấy đối với sự phát triển của internet, nó còn vẫn tiếp tục vươn rộng giống hệt trước đây. Web vẫn có tầm quan trọng như dự báo của những người lạc quan nhất. Chỉ có điều nó mất nhiều thời gian hơn để đạt được tới tầm vóc mà thị trường chứng khoán tính toán. Từ góc nhìn của người tiêu dùng, miễn phí hấp dẫn hơn nhiều trong một nền kinh tế đi xuống.

Miễn phí vẫn có tác động lên tâm lý người dùng. Nhưng miễn phí không thôi chưa đủ. Nó cần phải được song hành với “trả tiền”. Tương tự như con dao cạo miễn phí của King Gillette chỉ có nghĩa kinh tế khi đi cùng với lưỡi dao đắt tiền. Các nhà kinh doanh trên web ngày nay cũng phải tạo ra không chỉ sản phẩm người ta ưa chuộng mà còn có cả sản phẩm người ta sẽ trả tiền để mua. Miễn phí có thể là mức giá tốt nhất, nhưng nó không thể là mức giá duy nhất.
Nhượng Quyền Việt Nam