Showing posts with label quy hoạch. Show all posts
Showing posts with label quy hoạch. Show all posts

Sunday, April 12, 2015

Một mắc-ca đang “xấu xí”: 20 năm, Bộ ở đâu?

Được xem là “nữ hoàng của các loại hạt khô”, nhưng hình ảnh của mắc-ca gần đây bỗng nhiên trở nên “xấu xí” tại Việt Nam...

Một sản phẩm mắc-ca đã qua chế biến của Công ty Cổ phần Vinamacca tại Tây Nguyên.

Như một bài viết gần đây trên VnEconomy, sau 11 năm từ chính sách và nguồn giống thí điểm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, gia đình ông Đinh Kim Thu (thôn Lộc Xuân, xã Phú Lộc, huyện Krông Năng, tỉnh Đắc Lắc) đã làm giàu được. Nhưng, bền vững hay không còn khó nói…

Tham gia chương trình thí điểm, trên diện tích 0,5 ha, vườn ông Thu có 100 cây mắc-ca trên 10 tuổi. Có loại cho bình quân 17 kg quả mắc-ca/cây, có loại lên tới khoảng 50 kg/cây. Tổng thu năm 2014 đạt tới 300 triệu đồng, trong đó chi phí chỉ mất khoảng 10%.

Hiện tại, đây là một mô hình thành công. Nhưng tính bền vững còn khó nói, do cách làm và thị trường có thể thay đổi trong tương lai.

Chưa được chuẩn hóa

Khảo sát của VnEconomy tại vườn ông Thu cho thấy, loại giống cho tới khoảng 50 kg quả mắc-ca/cây là giống OC. Gia đình ông có xu hướng chọn lọc và đi theo loại giống này, vì năng suất vượt trội.

Tuy nhiên, điểm hạn chế của loại giống OC là khó thu hoạch, dẫn đến chi phí nhân công cao nếu trồng diện rộng. Đặc biệt, nhân hạt mắc-ca loại này nhỏ, vỏ lại dày hơn các loại khác.

Khi mà thị trường mắc-ca Việt Nam còn nhập nhèm, đa số người tiêu dùng chưa phân biệt rõ các dòng sản phẩm, việc mua bán chủ yếu tính theo trọng lượng, thì năng suất của giống OC được nhiều chủ vườn ưa thích.

Thế nhưng, tại cuộc họp Ban Chỉ đạo dự án phát triển mắc-ca Lâm Đồng ngày 8/4 vừa qua, có một quan điểm được xác định ngay từ đầu: không tiến hành phát triển giống OC.

Một mặt, loại giống này khó thu hoạch dẫn tới chi phí nhân công cao; mặt khác, trong tương lai, khi sự phân biệt về chất lượng rõ ràng hơn, nhất ở ở các thị trường xuất khẩu khắt khe, sản phẩm từ nguồn OC (xuất xứ từ Trung Quốc) sẽ rất khó cạnh tranh, khó được giá.

Dù sao, mắc-ca từ giống OC cũng là một sản phẩm điển hình, được thị trường chấp nhận khi sản xuất đúng tiêu chuẩn. Còn trên thị trường hiện nay, loại quả này đang khoác một chiếc áo “xấu xí” trong mắt người tiêu dùng, vì thiếu tổ chức và chuẩn hóa từ gốc.

Theo phản ánh của một số thương lái tại Lâm Đồng, ngay người dân khi thu hoạch cũng không ý thức để phân loại rõ loại quả hạt nhăn và quả trơn, dù chúng rất khác nhau về chất lượng khi dùng: loại nhăn chế biến thành sản phẩm tốt, loại trơn chủ yếu ép lấy dầu.

Sự lẫn lộn đó trôi nổi trên thị trường có thể khiến nhiều người tiêu dùng ban đầu nhầm tưởng mắc-ca là “xấu xí”, khi dùng loại quả trơn kém chất lượng.

Chưa hết, do được khía vỏ khi chế biến để tiện dùng, việc chế biến và bảo quản không đúng tiêu chuẩn dễ dẫn đến tình trạng ẩm mốc, hạt đổi màu, không giữ được hương vị và chất lượng…, khiến loại hạt này càng “xấu xí” hơn trong mắt người tiêu dùng chưa rành.

Về giá, mắc-ca tại Việt Nam cũng trở nên thiếu thiện cảm vì “ở trên trời” và có tình trạng loạn giá thời gian gần đây.

Tại vườn, một số hộ dân bán nguyên liệu quả tươi từ 100.000 - 120.000 đồng/kg, có nơi hét tới 300.000 đồng/kg, thậm chí tới 500.000 đồng/kg kiểu hàng chọn…

Loại quả có vỏ đã khứa có từ 250.000 - 300.000 đồng/kg, nhưng cũng có đầu mối áp tới 400.000 - 500.000 đồng/kg. Loại nhân hạt có từ 800.000 - 900.000 đồng/kg…

Với chất lượng không đồng đều, thậm chí có những loại kém chất lượng, giá bán lại quá cao, khiến mắc-ca trở thành món hàng xa xỉ đối với đại chúng. Và nếu nhiều người quay lưng với thực trạng đó thì cũng dễ hiểu.

Hiện Việt Nam chưa có một thị trường sản phẩm mắc-ca đúng nghĩa. Nó chưa được chuẩn hóa từ gốc: chọn lọc giống, tạovùng chuẩn nguyên liệu, tổ chức chế biến và kiểm soát chất lượng đầu ra; lượng hàng khan hiếm dẫn tới bị làm giá và giá ảo.

20 năm, Bộ ở đâu?


Bắt đầu từ năm 1994, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chính thức bắt tay vào quá trình thí điểm và khảo nghiệm mắc-ca tại Việt Nam.

Và sau 20 năm, Bộ có trong tay 10 loại giống và… 35 ha trồng thử nghiệm rải rác tại 16 tỉnh.

Thế nhưng, mất tới 20 năm nghiên cứu và khảo nghiệm, cùng không ít tiền ngân sách chi ra, để rồi đến ngày 6/4 vừa qua, khi báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho hay, vẫn chưa tìm đủ “căn cứ khoa học” để phê duyệt quy hoạch phát triển cây mắc-ca.

Điều ngạc nhiên là, cũng trong báo cáo đó và trong công văn gửi UBND các tỉnh, dù “chưa đủ căn cứ khoa học”, Bộ lại xác định rõ rằng, từ nay đến năm 2020 tổng diện tích mắc-ca cả nước chỉ khoảng 10.000 ha mà thôi.

Mặc dù thực tế thì rất khác. Cũng theo báo cáo của Bộ, đến nay nhiều hộ dân và doanh nghiệp cũng tự làm mắc-ca, và họ đã có tới 1.923 ha, chủ yếu ở Tây Nguyên với 1.645 ha.

Và theo kế hoạch dự kiến, chỉ riêng đề án quy hoạch gần 14.000 ha của tỉnh Đắc Nông, 22.000 ha của tỉnh Lâm Đồng…, cũng như của một số doanh nghiệp lớn như Công ty Cổ phần Thương mại Đầu tư và phát triển công nghệ Quốc tế (IDT), Công ty Cổ phần Him Lam…, thì quy mô dự tính khoảng 10.000 ha của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã trở nên lỗi thời, dù mới nằm trên giấy.

Nếu như Bộ mất tới 20 năm với 35 ha để rồi “chưa đủ căn cứ khoa học”, thì nhiều hộ dân và doanh nghiệp đã phát triển hàng nghìn ha, nhiều mô hình đã thành công về sản lượng và doanh thu, đã được kiểm chứng thực tế những năm gần đây.

Tuy nhiên, với thị trường và trong mắt người tiêu dùng, một mắc-ca “xấu xí” nói trên đang tồn tại, rồi tình trạng loạn giá và loạn cây giống, rồi chuyện người dân “khóc ròng” đốn mắc-ca vì không có quả…

Vậy nên, sau khi đã mất 20 năm, đến khi nào hoạt động trồng và sản xuất mắc-ca tại Việt Nam mới thực sự được tổ chức, được chuẩn hóa; thị trường mắc-ca Việt Nam mới thực sự được tạo lập và bảo đảm lợi ích người tiêu dùng?

Ngày 8/4 vừa qua, UBND tỉnh Lâm Đồng đã họp Ban Chỉ đạo dự án phát triển mắc-ca, phối hợp với Công ty Cổ phần Him Lam, để bàn về hướng quy hoạch dự kiến khoảng 22.000 ha mắc-ca.

Cuộc họp này là một tín hiệu cụ thể cho yêu cầu chuẩn hóa việc trồng, chế biến và tạo thị trường mắc-ca tại Việt Nam. Trong đó, doanh nghiệp đứng ra đảm bảo tiêu chuẩn giống, kỹ thuật trồng và chăm sóc, bao tiêu, chế biến và tổ chức thị trường, hỗ trợ vốn và mua bảo hiểm rủi ro cho các hộ dân tham gia.

Đáng chú ý, tại cuộc họp trên, Lâm Đồng cũng đã xác định phải xây dựng thương hiệu cho mắc-ca địa phương mình.

Thương hiệu đó là sự cam kết với người tiêu dùng, để họ không quay lưng với một mắc-ca bị nhầm tưởng là “xấu xí” vì chưa chuẩn hóa và thiếu tổ chức.

(Vneconomy) 

Sunday, February 8, 2015

Phát triển mắc-ca: “Không chỉ bàn, mà làm luôn!”

Các chủ đầu tư đưa ra loạt kế hoạch, cam kết để các hộ dân tại Tây Nguyên có thể yên tâm theo đuổi dự án...
 
Một hộ nông dân trồng mắc-ca tại Lâm Đồng - Ảnh: Báo Lâm Đồng.

Nhiều người đã phải len chân mới có thể tìm một chỗ đứng theo dõi hội thảo về chiến lược phát triển cây mắc-ca tại Tây Nguyên, diễn ra sáng 7/2 ở Đà Lạt, do Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, Ban Kinh tế Trung ương cùng UBND tỉnh Lâm Đồng tổ chức.

Như những thông tin đưa ra thời gian qua, hai đối tác Công ty Cổ phần Him Lam và Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) một lần nữa giới thiệu về đề án đầu tư trên 20.000 tỷ đồng phát triển mắc-ca tại Tây Nguyên, chính thức triển khai từ năm 2015.

Đáng chú ý, đại diện hai nhà đầu tư trên cùng đưa ra những cam kết, được cho là cần thiết để thuyết phục người dân tham gia chương trình của mình.

Ưu đãi lãi suất, kỳ hạn 10 năm


Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Đức Hưởng, Phó chủ tịch LienVietPostBank, chỉ nói rất ngắn gọn: “Tại đây chúng ta sẽ không chỉ bàn, mà làm luôn!”.

Đó là kế hoạch 5 năm gây dựng vùng nguyên liệu 250.000 ha cây mắc-ca, bao gồm cả trồng xen và trồng thuần. Tổng chi phí đầu tư dự tính khoảng 29.000 tỷ đồng, trong đó tổng nguồn tín dụng ước tính khoảng 22.900 tỷ đồng.

Hai đối tác trên sẽ thu xếp nguồn vốn, cùng tuyên bố sẽ thực hiện chính sách ưu đãi lãi suất, với kỳ hạn cho vay các hộ dân khoảng 10 năm.

Ông Hưởng cũng nói rằng, các tính toán cho thấy, trong vòng 10 năm nữa lượng cung từ kế hoạch trên vẫn được xem là “hàng hiếm”.

Liên quan đến nguồn vốn, tại hội thảo, ông Nguyễn Tiến Đông, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước), đề cập đến khả năng sẽ có sự hỗ trợ nhất định.

Theo ông Đông, từ năm 2014, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai chương trình thí điểm cho vay các mô hình sản xuất liên kết theo chuỗi, ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp. Sắp tới, cơ quan này sẽ tổng kết để tiến tới chính thức mở rộng trên toàn quốc.

Đề án của Him Lam và LienVietPostBank nằm trong hướng ưu tiên của chương trình đó. Ngân hàng Nhà nước mong muốn nó phát triển bền vững, mở rộng để góp phần tái cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống người dân.

“Các anh cứ làm. Ngân hàng Nhà nước sẽ nghiên cứu chính sách hỗ trợ vốn, như cho vay tái cấp vốn đối với cá tra, trồng và thu mua lúa gạo, đóng tàu…”, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế nói.

Nhưng, ông cũng lưu ý rằng, như với chương trình tái canh cây cà phê cũng tại Tây Nguyên, chương trình phát triển mắc-ca này cần có thêm sự phối hợp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong quy hoạch, xây dựng các quy chuẩn tạo giống và chăm sóc.

Bộ Công Thương hướng dẫn việc chế biến, làm sao để chế biến sâu và thực sự tạo nên được các chuỗi giá trị từ hạt mắc-ca. Cùng đó, công tác thị trường, định hướng tiêu thụ… cũng cần bám sát việc sản xuất của người dân.

Các cam kết cần thiết


Ngoài các thông tin kỹ thuật và dữ liệu về tiềm năng phát triển cây mắc-ca tại Tây Nguyên, được xem là lý tưởng, ông Dương Công Minh, Chủ tịch Him Lam, còn nhấn mạnh đến yếu tố niềm tin của người dân ở chương trình này.

Như để chuyển tải niềm tin của chính mình, ông Minh cho biết trong thời gian qua Him Lam đã làm thật rồi. Họ đã xây dựng các vùng tạo giống, thuê các chuyên gia của Mỹ và Úc về trực tiếp làm việc.

Và để nhấn mạnh cho yêu cầu làm thật này, Chủ tịch Him Lam tiết lộ đã bỏ ra 150.000 USD mỗi tháng để thuê 5 chuyên gia về làm cho mình.

Cùng với khâu tạo giống, ông Minh cho biết, ngay sau hội thảo, Him Lam sẽ triển khai ngay việc xây dựng nhà máy và lập quy trình chế biến hạt mắc-ca, sẵn sàng khâu này ngay từ đầu ngay cả cho hướng xuất khẩu.

Cũng như thông tin từ ông Hưởng, là Chủ tịch Hội đồng Quản trị LienVietPostBank, ông Dương Công Minh một lần nữa khẳng định sẽ xây dựng và triển khai chính sách cho vay lãi suất ưu đãi. Điều này được xem là cần thiết, khi cây mắc-ca từ khi trồng mới đến mùa khai thác đầu tiên thường phải mất 5 năm.

Để các hộ dân tin tưởng hơn, cùng với cam kết xây dựng nhà máy và bao tiêu sản phẩm, Him Lam cho biết trước mắt sẽ đứng ra mua bảo hiểm nông nghiệp cho các hộ dân, đảm bảo an toàn cho họ chuyên tâm tham gia chương trình. Sắp tới, Công ty Bảo hiểm Liên Việt sẽ được thành lập để trực tiếp làm công tác này.

Tại hội thảo, ông Dương Công Minh cũng đề xuất được thành lập ngay Hiệp hội Mắc-ca Tây Nguyên. Đây là đầu mối tập hợp các doanh nghiệp, các hộ dân để tổ chức, phối hợp và hướng dẫn trồng vùng nguyên liệu, chế biến và làm công tác thị trường.

Trên bàn chủ tọa hội thảo, trước kế hoạch và những cam kết trên, cũng như qua nghiên cứu tham luận của các nhà khoa học trong và ngoài nước, qua tìm hiểu thực tiễn một số mô hình đã thành công, Trưởng ban Kinh tế Trung ương, ông Vương Đình Huệ lạc quan: “Hôm nay, chúng ta hoàn toàn có quyền mộng mơ và tin tưởng về một vị thế xứng đáng của mắc-ca Việt Nam trên bản đồ mắc-ca khu vực và thế giới”.
 

Wednesday, February 4, 2015

20.000 tỷ đồng vào mắc-ca: “Không ai làm thì tôi cũng tự trồng”

Người trực tiếp xây dựng và triển khai nói gì về triển vọng phát triển cây mắc-ca tại Tây Nguyên?...
Ông Nguyễn Đức Hưởng, Phó chủ tịch Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank).
Tháng 4 năm ngoái, ông Nguyễn Đức Hưởng, Phó chủ tịch Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank), lần đầu tiên nói về kế hoạch đầu tư phát triển cây mắc-ca tại Tây Nguyên, với quy mô dự kiến ban đầu khoảng 10.000 tỷ đồng.

Đến đầu tuần này, hai đối tác triển khai đề án, Công ty Cổ phần Him Lam và LienVietPostBank, cho biết đã khảo sát và có thể mở rộng quy mô đầu tư phát triển mắc-ca, với số vốn dự kiến trên 20.000 tỷ đồng.

Ông Nguyễn Đức Hưởng, người có ý tưởng và trực tiếp xây dựng đề án, vừa có cuộc trao đổi với VnEconomy.

Muốn cho dân vay để trồng loại cây này
Thưa ông, từ năm ngoái, khi có thông tin về kế hoạch đầu tư nói trên, cũng đã có những hoài nghi... Nói một cách dân dã thì có phải là “chém gió” không?

Cũng dễ hiểu thôi. Trước đây nếu là tôi, nghe ai đó nói một kế hoạch như vậy thì tôi cũng nghĩ là “chém gió”. Vì nó còn mới quá, và chưa thấy thực tiễn tại Việt Nam. Ngay cả khi triển khai thì cũng phải mất 5-7 năm mới chứng minh được.

Năm ngoái, sau khi có kế hoạch trên, LienVietPostBank và Him Lam đã tổ chức nghiên cứu, thuê chuyên gia nước ngoài cùng làm, xây dựng quy trình cụ thể. Chúng tôi đã đề xuất với Ban Chỉ đạo Tây Nguyên tổ chức một hội thảo chuyên đề về phát triển loại cây này vào ngày 7/2 tới tại Đà Lạt để cùng thảo luận sâu hơn.

Vậy ý tưởng phát triển cây mắc-ca quy mô lớn tại Việt Nam có từ khi nào và bắt đầu như thế nào, thưa ông? Hay vì sao đến lúc này mới “nhìn thấy” loại cây này?

Cá nhân tôi đi công tác nước ngoài, thấy người ta dùng nhiều loại hạt này. Tìm hiểu kỹ thì thấy giá trị của nó và nhận thấy thực tế ở ta đã thí điểm thành công rồi, nhất là tại Tây Nguyên.

Tôi cũng đã gặp các đối tác là doanh nghiệp ngành thực phẩm bánh kẹo, dược mỹ phẩm. Họ lại đang đi tìm loại nguyên liệu này. Cung trong nước rất hạn chế, mà chủ yếu là nhập khẩu.

Trong khi đó, đất và điều kiện tự nhiên phù hợp với mắc-ca thì Việt Nam có. Cứ như trời cho vậy. Cho nên nếu không ai làm thì tôi cũng tự trồng. Ngay cá nhân tôi cũng đã đi tìm đất để tự mình làm.

Ý tưởng đó có cách đây hai năm rồi.

Là người làm ngân hàng, có vẻ như ngoại đạo khi ông và LienVietPostBank tập trung vào phát triển cây mắc-ca với quy mô dự kiến lớn như vậy?

Từ trước đến giờ chúng tôi luôn xác định nông dân là đối tượng khách hàng rất tốt cho ngân hàng. Chúng tôi đang cho vay trồng lúa, chăn nuôi, kể cả trồng cà phê. Nên với chúng tôi, làm mắc-ca là đúng việc.

Chúng tôi muốn mọi người quan tâm hơn đến nó, vì nó còn rất mới, làm sao để người dân đến với nó nhanh hơn, thành công đến nhanh hơn và họ đỡ vất vả hơn.

Ở khía cạnh sự tham gia của ngân hàng, tiềm năng như thế nào, thưa ông?

Mục tiêu của đề án là tạo công ăn việc làm, đổi mới cách làm, tạo hiệu quả kinh tế cao hơn cho người nông dân. Như tôi nói ở trên, họ là các khách hàng gần gũi của LienVietPostBank; họ làm ăn hiệu quả thì hoạt động cho vay của ngân hàng sẽ thuận lợi.

Chúng tôi sẽ tiên phong đứng ra xin đất làm giống, đầu tư giống, qua quy hoạch của địa phương, rồi hỗ trợ vốn trung dài hạn cho các hộ dân trồng loại cây này. Nếu có đất đai tốt, chúng tôi sẽ tổ chức trồng tập trung riêng.

Chúng tôi muốn cho dân vay để trồng loại cây này, cho vay trung dài hạn 7-10 năm. Theo tính toán thì đến năm thứ 7 là nông dân đã có thể thu hồi xong vốn và có lãi. Nó bền vững và điều này cần cho ngân hàng.

Còn tiềm năng của cây mắc-ca tại Việt Nam, hay tính khả thi của đề án, rồi vấn đề đầu ra nữa?

Việt Nam gần như chưa có sản phẩm mắc-ca để bán. Bởi, các hãng thực phẩm, bánh kẹo, mỹ phẩm đã mua sạch nguyên liệu rồi. Trên thế giới, các thống kê cho thấy nhiều năm rồi cung vẫn không đáp ứng đủ cầu.

Với chúng tôi, trước mắt chưa tính đến xuất khẩu, chỉ riêng đáp ứng trong nước đã đủ rồi.

Ở Việt Nam, có ba địa phương phù hợp nhất cho cây mắc-ca, với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng, là Đà Lạt, Đắc Nông và Kon Tum. Khu vực Tây Bắc cũng có thể, nhưng mưa hơi nhiều và sương muối… và vẫn phải thí điểm tiếp. Còn Tây Nguyên thì triển khai được rồi.

Tây Nguyên hiện có cây cà phê là chủ lực, nhưng phần lớn đã già cỗi, khoảng 60-70% đang đứng trước yêu cầu tái canh. Tuy nhiên, hiện nay chủ trương, quy hoạch và nguồn vốn cho tái canh cây cà phê vẫn nhiều vướng mắc.

Cây mắc-ca có thể thay thế cây cà phê hoặc trồng xen cũng được. Đưa mắc-ca vào, vẫn trồng cà phê bình thường, hai cây bổ trợ cho nhau. Cũng lưu ý là cây mắc-ca có thể cho khai thác tới 60 năm.

Dù cũng có những khó khăn nhất định! Tâm lý người dân, bỏ cây cà phê già cỗi dù vẫn đang cho thu hoạch, thay cây mới và chờ 4-5 năm nữa mới thu hoạch thì người ta khó làm. Nhưng nếu cứ thế này thì 4-5 năm nữa cây cà phê thoái hóa là trắng tay không có gì.

Tây Nguyên có khoảng 5 triệu ha cây công nghiệp, có thể trồng xen 1 triệu ha mắc-ca. Có thể trồng ngay được 250 nghìn ha, mà chừng đó thì cũng mới chỉ đáp ứng được nhu cầu trong nước, thay thế hàng nhập khẩu, phục vụ cho các ngành chế biến thực phẩm, bánh kẹo, mỹ phẩm…

Trong hội thảo tới, chúng tôi sẽ mời các doanh nghiệp, chuyên gia Nhật Bản. Trong các đợt tham khảo ở nước ngoài, khi đặt vấn đề hợp tác khép kín từ trồng vùng nguyên liệu đến bao tiêu sản phẩm, thì họ đồng ý làm ngay.

Lợi thế trời cho


Triển vọng là vậy, nhưng liệu có tình huống nào đó ngoài mong muốn trong tương lai, tương tự như chuyện người dân đốt mía, chặt sắn, cao su, đổ sữa… không, thưa ông?

Chúng tôi đã tính toán, từ bây giờ cho đến khi tạo được vùng nguyên liệu 500 đến 1 triệu ha thì mới chỉ đủ đáp ứng nhu cầu trong nước thôi. Nếu trồng được quy mô đó, Tây Nguyên sẽ trở thành thủ phủ mắc ca của Đông Nam Á.

Trên thế giới cũng mới chỉ có một số vùng chủ yếu như Nam Phi, Hawaii, Úc, một phần Vân Nam Trung Quốc… Thế giới vẫn mất cân đối cung - cầu, mà các khu vực có điều kiện tự nhiên để trồng và có được chất lượng hạt mắc-ca tốt không nhiều. Loại cây này kén thổ nhưỡng, khí hậu, chứ không phải muốn đại trà là được.

Như tôi nói, Tây Nguyên có được điều kiện tự nhiên rất phù hợp. Đó là lợi thế trời cho.

Còn về quy mô vốn, ông nói gì về năng lực của Him Lam và LienVietPostBank?

Khi có ý tưởng và xây dựng đề án, chúng tôi dự tính quy mô vốn cần cho đề án khoảng 10.000 tỷ đồng. Bởi lượng vốn đầu tư ban đầu cũng không quá nhiều.

Qua quá trình khảo sát, đánh giá tiềm năng của loại cây này, khi nó thu hút được sự tham gia của người dân, chúng tôi có thể đầu tư khoảng 20.000 - 25.000 tỷ đồng, trải ra trong khoảng 5 năm.

Quy mô đó là bình thường. Chúng tôi làm rồi. Không tổ chức nào tham gia thì cá nhân chúng tôi cũng vẫn làm.

Liệu có sự đặt cược hay mạo hiểm ở đây không?

Tất nhiên khi bỏ tiền ra thì phải đánh giá trước những dấu hiệu tiền quay trở lại. Nếu xem đó là đặt cược hay có mạo hiểm thì chúng tôi sẵn sàng. Nhưng tôi xem không có đặt cược ở đây, mà là cơ hội cần nắm lấy.

Còn với người dân, khi khảo sát và đi vào thực tế, ông có thấy họ e ngại hoặc hoài nghi không?

Tôi nhận thấy họ đang háo hức, vì thời gian thử nghiệm đã qua rồi. Người ta thấy các mô hình thành công rồi, nhưng chưa có ai đứng ra hô để làm, để có quy hoạch và tổ chức thực sự, mà đang tự phát.

Đúng ra chúng ta phải có chiến lược để hỗ trợ nông dân trước thực tế cây công nghiệp đang già cỗi. Trong khi đó, Tây Nguyên có được điều kiện tự nhiên trời cho, phải nắm lấy lợi thế đó.
Vneconomy

Tuesday, February 3, 2015

Trên 20.000 tỷ đồng cho “cây tỷ đô” tại Tây Nguyên

Him Lam và LienVietPostBank bắt đầu triển khai kế hoạch đầu tư hơn 20.000 tỷ đồng trồng mắc-ca...
Ngay tại Thanh Hóa, hiện đã có hộ dân chủ động được với vườn giống cây mắc ca - Ảnh: Quang Thái.

Ngày 7/2 tới, tại Đà Lạt, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên phối hợp cùng Ban Kinh tế Trung ương, UBND tỉnh Lâm Đồng sẽ tổ chức một hội thảo chuyên đề về phát triển cây mắc-ca (Macadamia) tại khu vực Tây Nguyên.

Tại hội thảo này, Công ty Cổ phần Him Lam và Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) sẽ giới thiệu lộ trình triển khai đề án đầu tư phát triển cây mắc-ca, dự kiến quy mô trên 20.000 tỷ đồng trong 5 năm đầu.

Đây là đề án đầu tiên hướng đến việc phát triển quy mô lớn loại cây này tại Việt Nam, được tổ chức từ tạo giống, quy hoạch vùng nguyên liệu và cho vay vốn, cũng như trực tiếp tham gia với các hộ nông dân trên địa bàn.

Đầu năm 2014, LienVietPostBank và Him Lam đã xây dựng đề án với trù tính quy mô khoảng 10.000 tỷ đồng, trong đó trực tiếp tham gia trồng 5.000 ha. Qua quá trình khảo sát, quy mô này được mở rộng dự kiến từ 20.000 - 25.000 tỷ đồng, bắt đầu triển khai cụ thể từ 2015.

Lãnh đạo LienVietPostBank cho biết, quy mô vốn dự kiến trên nằm trong khả năng của ngân hàng, được tính toán phù hợp với lượng giải ngân rải đều khoảng 5 năm, theo triển vọng phát triển được từ 250 - 500 nghìn ha tại các tỉnh Tây Nguyên (khu vực có điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp).

Hai đối tác trên quyết định triển khai sau khi khảo sát thực tế thành công của một số mô hình thí điểm tại Việt Nam.

“Đã có các mô hình triển khai thành công. Thế nhưng cây mắc-ca tại Việt Nam hiện vẫn phát triển tự phát và manh mún. Chúng tôi mong muốn đây sẽ là loại cây công nghiệp chiến lược và chủ lực, thu hút bà con nông dân tham gia và thực sự tạo được đổi thay tại Tây Nguyên, biến Tây Nguyên thành thủ phủ mắc-ca của khu vực Đông Nam Á”, một lãnh đạo LienVietPostBank nói.

Hội thảo sắp tới cũng sẽ tập trung vào mục tiêu trên, với sự tham gia của đại diện các ban ngành liên quan, các chuyên gia cùng doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Mắc ca hiện là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, được mệnh danh là “cây tỷ đô” tại Việt Nam, với nhu cầu lớn trên thị trường thế giới, đã được trồng thử trong nước từ hơn một thập kỷ trước. Các đánh giá cho thấy Tây Nguyên và Tây Bắc là hai khu vực thích hợp nhất để trồng mắc-ca tại Việt Nam, đặc biệt là Tây Nguyên.

Việc trồng thử nghiệm đã đem lại những kết quả khả quan, với năng suất khá cao. Tính đến tháng 9/2014, diện tích trồng mắc-ca tại Kon Tum là 50 ha, Gia Lai 80 ha, Đắc Lắc 500 ha, Đắc Nông 600 ha và Lâm Đồng 400 ha.
Theo Vneconomy

Mắc-ca âm thầm vào Tây Nguyên: Đã đến lúc “làm ăn lớn”?

Hiện giá 1 kg nhân hạt mắc-ca sản xuất trong nước lên tới 700 nghìn đồng/kg, tương đương hơn 33 USD/kg...
Giá nhân hạt mắc-ca nhập khẩu từ Úc hiện là 950 nghìn đồng/kg, tương đương khoảng 45 USD/kg.
10 năm âm thầm len lỏi cạnh cà phê, tiêu và điều, ít ai ngờ loài cây ngoại lai mắc-ca lại đang rất được ưa chuộng tại Tây Nguyên, đạt tới mức giá 700 nghìn/kg nhân hạt.

Một hội thảo lớn về loại cây này sẽ diễn ra tại Đà Lạt ngày 7/2 tới, mở đầu cho xu hướng đầu tư quy mô lớn của các doanh nghiệp, thay vì chỉ có hộ gia đình như hiện nay.

Cung mới đáp ứng 1/4 cầu


Theo ông Dương Công Minh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Him Lam, mấy năm qua, hạt mắc-ca rất được ưa chuộng tại Việt Nam, nhưng chủ yếu lại nhắm vào nhóm tiêu dùng là người nước ngoài, Việt kiều về nước và những người có thu nhập cao.

Ở thời điểm hiện tại, giá 1 kg nhân hạt mắc-ca sản xuất trong nước lên tới 700 nghìn đồng/kg, tương đương hơn 33 USD/kg. Trong khi, giá nhân hạt mắc-ca nhập khẩu từ Úc hiện là 950 nghìn đồng/kg, tương đương khoảng 45 USD/kg, cao hơn 36%.

Sở dĩ như vậy là do sản xuất trong nước còn manh mún, nguồn cung thấp, chất lượng chưa đạt chuẩn quốc tế như mắc-ca của Úc.

Ông Đinh Mạnh Đại, thôn Giang Mih, xã Eapuk, huyện Krong Năng, tỉnh Đắc Lắc, gắn bó với mắc-ca gần 5 năm kể, vào tháng 11/2010, ông đi dự hội thảo do Sở Khoa học và Công nghệ Đắc Lắc và Công ty Cổ phần Vinamaca tổ chức. Qua phân tích của các nhà khoa học, gia đình ông quyết định bỏ vốn 40 triệu đồng trồng thử.

Từ chỗ một gia đình ông trồng, đến nay, tại huyện này đã có tới 17.800 cây giống của nhiều hộ khác tham gia và khả năng đạt sản lượng 200 nghìn tấn quả vào năm 2015 là chắc chắn.

Với bà Kim Thị Định cũng ở huyện Krong Năng, thì câu chuyện mắc-ca gian truân hơn. Ban đầu, bà trồng xen mắc-ca với cà phê, kết quả thu hoạch tốt.

Tuy nhiên, vì không biết liên hệ đầu ra ở đâu nên bà định chặt bỏ. Một thời gian sau đó, nhiều đoàn chuyên gia từ Úc, Thái Lan, Nhật bản đến khảo sát và khẳng định loài cây này rất hợp với khí hậu, thổ nhưỡng Tây Nguyên khuyên bà giữ lại vườn cây.

Đến nay, vườn mắc-ca của gia đình bà đã tròn 10 năm tuổi, thu nhập ổn định và vượt trội so với trồng cà phê.

Phân tích tổng quan, ông Nguyễn Trí Ngọc, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển công nghệ nông lâm nghiệp Thành Tây cho biết, nhu cầu thị trường toàn thế giới đến 2020 cần khoảng 220 nghìn tấn nhân, tương đương 650 nghìn tấn hạt vỏ; trong khi nhu cầu đáp ứng đến thời điểm đó chỉ đáp ứng được 25 - 30%.

Đã đến lúc “làm ăn lớn”?


Mặc dù hạt nhân mắc-ca được sử dụng cho các ngành chế biến thực phẩm, đồ ăn khô, hóa mỹ phẩm, sản phẩm làm đẹp nhưng trên thế giới không phải nơi nào cũng trồng được. Kể cả những khu vực được cho là trồng được, thì cũng chỉ có những nơi có tiểu vùng khí hậu phù hợp.

Ví dụ, các chuyên gia nước ngoài khảo sát ở khu vực Tây Nguyên thì thấy Lâm Đồng là nơi trồng lý tưởng nhất, bên cạnh một số huyện ở các tỉnh lân cận.

Chính vì mắc-ca rất “kén” điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu nên đó lại là lợi thế so sánh của Việt Nam. Điều này cũng lý giải vì sao hạt mắc-ca có giá trị lớn, đã được ưa chuộng trên thế giới hàng chục năm nay nhưng chưa bao giờ cung đủ cầu.

Ông Huỳnh Ngọc Huy, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Liên Việt cho rằng, trên thế giới hiện nay mới chỉ có Nam Phi và Úc là hai cường quốc mắc-ca. Trong khi đó, mặc dù Việt Nam khá thuận lợi về điều kiện tự nhiên nhưng lâu nay do quy mô sản xuất theo hộ nên phần lớn chỉ để cung cấp cây giống, hạt giống và hoàn toàn chưa xuất hiện mô hình sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị: sản xuất, chế biến, phân phối.

Chưa kể, sự tác động của chính sách vào loại cây trồng được cho là “cây tỷ đô” này vẫn còn hết sức mờ nhạt. Thậm chí, có chính sách rồi nhưng việc thực thi lại chưa đến nơi đến chốn mà thắc mắc của ông Đinh Mạnh Đại là một ví dụ.

Ông Đại nói: “Nghị định 210/2013/NĐ-CP, điều 12 có ghi rõ: trồng đủ 50 ha mắc-ca theo dự án thì hỗ trợ 15.000 đồng/ha để chăm sóc vườn. Nay vườn cây chúng tôi đạt trên 100 ha nhưng vẫn chưa được hỗ trợ đồng nào. Nếu có hỗ trợ thì Nhà nước nên cho dân biết và tổ chức thực hiện nghiêm túc”.

Hiện, Công ty Cổ phần Him Lam đã tiến hành dự án nghiên cứu tổng thể về cây mắc-ca tại Tây Nguyên, và sẽ là doanh nghiệp đầu tiên xung phong đầu tư vào loại cây này trên quy mô lớn.

Trước mắt, công ty này sẽ phối hợp với Ban Kinh tế Trung ương, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên tổ chức một hội thảo chuyên ngành vào ngày 7/2 tới tại Đà Lạt, quy tụ hàng chục chuyên gia và hàng trăm khách mời là những người hiểu biết rất rõ về mắc-ca, và là chủ các dự án nhỏ trồng cây mắc-ca trong 10 năm qua.

Quan điểm “làm ăn lớn” của Him Lam cũng nhận được đồng tình của ông Lê Văn Minh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lâm Đồng: “Muốn có một vùng nguyên liệu lâu dài và bền vững, trước tiên cần có quy hoạch, phân vùng, ưu tiên và tạo điều kiện cho các công ty đã được UBND tỉnh Lâm Đồng thống nhất chủ trương triển khai vùng nguyên liệu trong thời gian qua. Đồng thời, tiếp tục kêu gọi các tổ chức, cá nhân cùng tham gia đầu tư mở rộng vùng nguyên liệu, xây dựng nhà máy chế biến mắc-ca tại địa phương”.

Vneconomy

Friday, January 30, 2015

Lộ trình di dời trụ sở các cơ quan ra ngoại thành Hà Nội

Quỹ đất sau khi di dời phải đấu giá công khai, ưu tiên cho công trình công cộng, không được dùng xây chung cư cao tầng...

Bộ Giao thông Vận tải  - một trong những bộ, ngành, đơn vị trong nội thành Hà Nội phải di dời trụ sở.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa ký ban hành quyết định về biện pháp, lộ trình di dời và việc sử dụng quỹ đất sau khi di dời cơ sở sản xuất công nghiệp, bệnh viện, cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và các cơ quan, đơn vị trong nội thành Hà Nội.

Theo đó, các cơ sở cần phải di dời trong khu vực nội thành Hà Nội, bao gồm các quận: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Tây Hồ, Hoàng Mai, Thanh Xuân, Hà Đông, Cầu Giấy, Long Biên, Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm.

Đối tượng di dời là các cơ sở sản xuất công nghiệp, bệnh viện, cơ sở điều trị có mức độ ô nhiễm, truyền nhiễm lây nhiễm cao, sử dụng quá tải; các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và các cơ quan, đơn vị nằm trong khu vực nội thành Hà Nội không phù hợp các quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành, gây mất cân đối về hạ tầng xã hội và kỹ thuật, giao thông, ô nhiễm môi trường và không phù hợp với quy hoạch chung đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cần phải di dời ra ngoài khu vực nội thành Hà Nội.

Các cơ sở sản xuất công nghiệp, bệnh viện, cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và các cơ quan, đơn vị nằm ở nội thành Hà Nội trong danh mục cần phải di dời ra ngoài nội thành.

Lộ trình và biện pháp di dời cụ thể được xác định phù hợp với điều kiện, địa điểm cụ thể và đặc điểm của từng cơ sở cần phải di dời, đảm bảo tính khả thi. Quá trình thực hiện di dời phải hạn chế tối đa việc ảnh hưởng đến hoạt động của các đối tượng, không ảnh hưởng tới môi trường đô thị và hoạt động xã hội của nhân dân.

UBND thành phố Hà Nội và UBND các tỉnh vùng Thủ đô có liên quan chuẩn bị quỹ đất xây dựng nơi được di dời đến phải phù hợp với vị trí, quy mô, chức năng theo quy hoạch xây dựng. Có cơ chế chính sách phù hợp với các đối tượng, đảm bảo tính khả thi để thực hiện việc di dời.

Theo quyết định của Thủ tướng, việc sử dụng quỹ đất sau khi di dời các cơ sở sản xuất công nghiệp, cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cơ quan đơn vị được ưu tiên để xây dựng, phát triển các công trình công cộng, cây xanh, bãi đỗ xe, công trình hạ tầng xã hội và kỹ thuật đô thị; không làm tăng chất thải cho khu vực nội thành, đảm bảo cân bằng nhu cầu về hạ tầng xã hội, kỹ thuật và môi trường đô thị, không được sử dụng để xây dựng chung cư cao tầng sai quy hoạch.

Quỹ đất sau khi di dời các cơ sở sản xuất công nghiệp, cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cơ quan đơn vị được đấu giá công khai theo quy định để tạo kinh phí tái đầu tư cho doanh nghiệp bị di dời.

Đối với những công trình xây dựng có giá trị về lịch sử, văn hóa và kiến trúc cần được thực hiện bảo tồn, phục chế tôn tạo theo quy định của Luật Di sản văn hóa. Ưu tiên sử dụng các công trình này cho các mục đích công cộng...

Vneconomy