Showing posts with label bản tinh kinh tế. Show all posts
Showing posts with label bản tinh kinh tế. Show all posts

Tuesday, April 21, 2015

Người giàu tại Việt Nam tăng nhanh thứ 3 châu Á

Tới 2020, Việt Nam sẽ có 347 hộ gia đình với tài sản từ 100.000 USD đến 2 triệu USD (2 tỷ đến 42 tỷ đồng), được xếp vào hạng giàu có của thế giới.
Xét trên bình diện thu nhập của các hộ gia đình, Việt Nam đạt mức tăng trưởng cao thứ 3 thế giới. Ảnh: Anh Tuấn.

Các chuyên gia của The Economist mới vừa đưa ra những dự báo khả quan về tương lai kinh tế Việt Nam. Theo đó, đến năm 2018, kinh tế Việt Nam sẽ chứng kiến sự tăng trưởng lên tới 35%. Các phân tích cũng chỉ ra rằng, sự tăng trưởng tiêu dùng cá nhân sẽ giúp đất nước hoàn toàn vượt qua những ảnh hưởng của thời kì lạm phát 2011-2012.

Xét trên bình diện thu nhập của các hộ gia đình, Việt Nam đạt mức tăng trưởng cao thứ 3 thế giới. Nếu như năm 2010, Việt Nam có 16 hộ với tài sản từ 100.000 USD đến 2 triệu USD, thì tới 2014, con số này là 57. Đến năm 2020, nước ta sẽ có 347 hộ gia đình có tài sản cao hơn con số trên, và được xếp vào hạng giàu có.


Bên cạnh đó, việc Việt Nam tăng trưởng vượt kì vọng năm 2014 cũng khiến các chuyên gia lạc quan về nền kinh tế trong năm 2015. Giá cả thị trường ổn định, lương tăng là các yếu tố đóng góp cho sự tăng trưởng này. Các yếu tố có lợi cho việc phát triển kinh tế tại Việt Nam được dự báo sẽ còn kéo dài trong 2 thập kỉ tới. Xét trên bình diện toàn cầu, châu Á-Thái Bình Dương là khu vực có sự gia tăng số lượng hộ gia đình giàu cao thứ 2 thế giới. Các chuyên gia cũng dự báo số lượng hộ gia đình có tổng tài sản hơn 100.000 USD tại Ấn Độ sẽ tăng tới 47,4% trong giai đoạn 2014-2020. 4 quốc gia khác tại châu Á cũng có sự tăng trưởng ấn tượng, bao gồm Indonesia (41,2%), Việt Nam (34,9%), Thái Lan (23,6%) và Philippines (22,8%).

Theo Zing.vn

 

Sunday, April 12, 2015

Một mắc-ca đang “xấu xí”: 20 năm, Bộ ở đâu?

Được xem là “nữ hoàng của các loại hạt khô”, nhưng hình ảnh của mắc-ca gần đây bỗng nhiên trở nên “xấu xí” tại Việt Nam...

Một sản phẩm mắc-ca đã qua chế biến của Công ty Cổ phần Vinamacca tại Tây Nguyên.

Như một bài viết gần đây trên VnEconomy, sau 11 năm từ chính sách và nguồn giống thí điểm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, gia đình ông Đinh Kim Thu (thôn Lộc Xuân, xã Phú Lộc, huyện Krông Năng, tỉnh Đắc Lắc) đã làm giàu được. Nhưng, bền vững hay không còn khó nói…

Tham gia chương trình thí điểm, trên diện tích 0,5 ha, vườn ông Thu có 100 cây mắc-ca trên 10 tuổi. Có loại cho bình quân 17 kg quả mắc-ca/cây, có loại lên tới khoảng 50 kg/cây. Tổng thu năm 2014 đạt tới 300 triệu đồng, trong đó chi phí chỉ mất khoảng 10%.

Hiện tại, đây là một mô hình thành công. Nhưng tính bền vững còn khó nói, do cách làm và thị trường có thể thay đổi trong tương lai.

Chưa được chuẩn hóa

Khảo sát của VnEconomy tại vườn ông Thu cho thấy, loại giống cho tới khoảng 50 kg quả mắc-ca/cây là giống OC. Gia đình ông có xu hướng chọn lọc và đi theo loại giống này, vì năng suất vượt trội.

Tuy nhiên, điểm hạn chế của loại giống OC là khó thu hoạch, dẫn đến chi phí nhân công cao nếu trồng diện rộng. Đặc biệt, nhân hạt mắc-ca loại này nhỏ, vỏ lại dày hơn các loại khác.

Khi mà thị trường mắc-ca Việt Nam còn nhập nhèm, đa số người tiêu dùng chưa phân biệt rõ các dòng sản phẩm, việc mua bán chủ yếu tính theo trọng lượng, thì năng suất của giống OC được nhiều chủ vườn ưa thích.

Thế nhưng, tại cuộc họp Ban Chỉ đạo dự án phát triển mắc-ca Lâm Đồng ngày 8/4 vừa qua, có một quan điểm được xác định ngay từ đầu: không tiến hành phát triển giống OC.

Một mặt, loại giống này khó thu hoạch dẫn tới chi phí nhân công cao; mặt khác, trong tương lai, khi sự phân biệt về chất lượng rõ ràng hơn, nhất ở ở các thị trường xuất khẩu khắt khe, sản phẩm từ nguồn OC (xuất xứ từ Trung Quốc) sẽ rất khó cạnh tranh, khó được giá.

Dù sao, mắc-ca từ giống OC cũng là một sản phẩm điển hình, được thị trường chấp nhận khi sản xuất đúng tiêu chuẩn. Còn trên thị trường hiện nay, loại quả này đang khoác một chiếc áo “xấu xí” trong mắt người tiêu dùng, vì thiếu tổ chức và chuẩn hóa từ gốc.

Theo phản ánh của một số thương lái tại Lâm Đồng, ngay người dân khi thu hoạch cũng không ý thức để phân loại rõ loại quả hạt nhăn và quả trơn, dù chúng rất khác nhau về chất lượng khi dùng: loại nhăn chế biến thành sản phẩm tốt, loại trơn chủ yếu ép lấy dầu.

Sự lẫn lộn đó trôi nổi trên thị trường có thể khiến nhiều người tiêu dùng ban đầu nhầm tưởng mắc-ca là “xấu xí”, khi dùng loại quả trơn kém chất lượng.

Chưa hết, do được khía vỏ khi chế biến để tiện dùng, việc chế biến và bảo quản không đúng tiêu chuẩn dễ dẫn đến tình trạng ẩm mốc, hạt đổi màu, không giữ được hương vị và chất lượng…, khiến loại hạt này càng “xấu xí” hơn trong mắt người tiêu dùng chưa rành.

Về giá, mắc-ca tại Việt Nam cũng trở nên thiếu thiện cảm vì “ở trên trời” và có tình trạng loạn giá thời gian gần đây.

Tại vườn, một số hộ dân bán nguyên liệu quả tươi từ 100.000 - 120.000 đồng/kg, có nơi hét tới 300.000 đồng/kg, thậm chí tới 500.000 đồng/kg kiểu hàng chọn…

Loại quả có vỏ đã khứa có từ 250.000 - 300.000 đồng/kg, nhưng cũng có đầu mối áp tới 400.000 - 500.000 đồng/kg. Loại nhân hạt có từ 800.000 - 900.000 đồng/kg…

Với chất lượng không đồng đều, thậm chí có những loại kém chất lượng, giá bán lại quá cao, khiến mắc-ca trở thành món hàng xa xỉ đối với đại chúng. Và nếu nhiều người quay lưng với thực trạng đó thì cũng dễ hiểu.

Hiện Việt Nam chưa có một thị trường sản phẩm mắc-ca đúng nghĩa. Nó chưa được chuẩn hóa từ gốc: chọn lọc giống, tạovùng chuẩn nguyên liệu, tổ chức chế biến và kiểm soát chất lượng đầu ra; lượng hàng khan hiếm dẫn tới bị làm giá và giá ảo.

20 năm, Bộ ở đâu?


Bắt đầu từ năm 1994, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chính thức bắt tay vào quá trình thí điểm và khảo nghiệm mắc-ca tại Việt Nam.

Và sau 20 năm, Bộ có trong tay 10 loại giống và… 35 ha trồng thử nghiệm rải rác tại 16 tỉnh.

Thế nhưng, mất tới 20 năm nghiên cứu và khảo nghiệm, cùng không ít tiền ngân sách chi ra, để rồi đến ngày 6/4 vừa qua, khi báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho hay, vẫn chưa tìm đủ “căn cứ khoa học” để phê duyệt quy hoạch phát triển cây mắc-ca.

Điều ngạc nhiên là, cũng trong báo cáo đó và trong công văn gửi UBND các tỉnh, dù “chưa đủ căn cứ khoa học”, Bộ lại xác định rõ rằng, từ nay đến năm 2020 tổng diện tích mắc-ca cả nước chỉ khoảng 10.000 ha mà thôi.

Mặc dù thực tế thì rất khác. Cũng theo báo cáo của Bộ, đến nay nhiều hộ dân và doanh nghiệp cũng tự làm mắc-ca, và họ đã có tới 1.923 ha, chủ yếu ở Tây Nguyên với 1.645 ha.

Và theo kế hoạch dự kiến, chỉ riêng đề án quy hoạch gần 14.000 ha của tỉnh Đắc Nông, 22.000 ha của tỉnh Lâm Đồng…, cũng như của một số doanh nghiệp lớn như Công ty Cổ phần Thương mại Đầu tư và phát triển công nghệ Quốc tế (IDT), Công ty Cổ phần Him Lam…, thì quy mô dự tính khoảng 10.000 ha của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã trở nên lỗi thời, dù mới nằm trên giấy.

Nếu như Bộ mất tới 20 năm với 35 ha để rồi “chưa đủ căn cứ khoa học”, thì nhiều hộ dân và doanh nghiệp đã phát triển hàng nghìn ha, nhiều mô hình đã thành công về sản lượng và doanh thu, đã được kiểm chứng thực tế những năm gần đây.

Tuy nhiên, với thị trường và trong mắt người tiêu dùng, một mắc-ca “xấu xí” nói trên đang tồn tại, rồi tình trạng loạn giá và loạn cây giống, rồi chuyện người dân “khóc ròng” đốn mắc-ca vì không có quả…

Vậy nên, sau khi đã mất 20 năm, đến khi nào hoạt động trồng và sản xuất mắc-ca tại Việt Nam mới thực sự được tổ chức, được chuẩn hóa; thị trường mắc-ca Việt Nam mới thực sự được tạo lập và bảo đảm lợi ích người tiêu dùng?

Ngày 8/4 vừa qua, UBND tỉnh Lâm Đồng đã họp Ban Chỉ đạo dự án phát triển mắc-ca, phối hợp với Công ty Cổ phần Him Lam, để bàn về hướng quy hoạch dự kiến khoảng 22.000 ha mắc-ca.

Cuộc họp này là một tín hiệu cụ thể cho yêu cầu chuẩn hóa việc trồng, chế biến và tạo thị trường mắc-ca tại Việt Nam. Trong đó, doanh nghiệp đứng ra đảm bảo tiêu chuẩn giống, kỹ thuật trồng và chăm sóc, bao tiêu, chế biến và tổ chức thị trường, hỗ trợ vốn và mua bảo hiểm rủi ro cho các hộ dân tham gia.

Đáng chú ý, tại cuộc họp trên, Lâm Đồng cũng đã xác định phải xây dựng thương hiệu cho mắc-ca địa phương mình.

Thương hiệu đó là sự cam kết với người tiêu dùng, để họ không quay lưng với một mắc-ca bị nhầm tưởng là “xấu xí” vì chưa chuẩn hóa và thiếu tổ chức.

(Vneconomy) 

Saturday, February 14, 2015

NHNN sẽ hỗ trợ phát triển cây mắc ca ở Tây Nguyên


(TBKTSG Online) - Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ nghiên cứu chính sách hỗ trợ vốn cho phát triển cây mắc ca, như cho vay tái cấp vốn đối với các ngân hàng thương mại để cho nông dân vay lại, tương tự cho vay cá tra hỗ trợ đóng tàu, trồng cây cà phê, ông Nguyễn Tiến Đông, Vụ trưởng Vụ tín dụng các ngành kinh tế của NHNN cho biết.
Cây mắc ca được trồng tại huyện Tuy Đức, Đắc Nông. Ảnh: Thanh Thương
 Tại Hội thảo Chiến lược phát triển cây mắc ca (maccadamia) được tổ chức tại Tây Nguyên ngày 7-2, ông Đông cho rằng, vấn đề cần quan tâm là những người thực hiện dự án cần có công bố về giống, quy hoạch trồng cây. “Việc quan trọng là xây dựng chuỗi giá trị cây mắc ca qua việc trồng, chế biến sâu, tiêu thụ. Việc này sẽ làm tăng giá trị thặng dư cho loại cây này, không để như cây cà phê, chủ yếu là xuất khẩu thô”, ông Đông nhấn mạnh.

Tại hội thảo, đại diện Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienvietPostbank) thông báo sẽ thu xếp 22.000 tỉ đồng tín dụng cho nông dân Tây Nguyên trồng cây mắc ca, một loại cây lấy hạt có giá bán cao hơn nhiều so với hồ tiêu, cà phê.

Hiện tại việc trồng cây mắc ca chỉ mới manh mún ở Tây Nguyên - một vùng đất và khí hậu rất phù hợp với loại cây này.

Theo ông Trương Đình Mạnh, Bí thư Huyện ủy huyện Tuy Đức, tỉnh Đắc Nông - địa phương đang trồng thử nghiệm giống cây này xen với cà phê và tiêu - trong thời gian qua nông dân đã được hỗ trợ về mặt kĩ thuật trồng, chăm sóc mắc ca nhưng vấn đề lo lắng hiện tại của người dân là vốn đầu tư.
Để giải quyết phần nào nỗi lo của nông dân, hiện nay tập đoàn Him Lam và LienvietPostbank đã hợp tác xây dựng gói sản phẩm dành riêng cho cây mắc ca, trong đó không chỉ cho vay vốn mà sẽ cùng đi với người dân trong quá trình trồng đến khi thu hoạch, theo ông Nguyễn Đức Hưởng, Phó chủ tịch LienvietPostbank. Hai đơn vị này sẽ hỗ trợ về đầu vào như nhập khẩu giống, phân bón, hỗ trợ nghiên cứu chọn địa điểm, điều chỉnh giống cây, kỹ thuật, và hỗ trợ về sản xuất, chế biến và xúc tiến việc tiêu thụ, giải quyết vốn cho chi phí lao động.

Ông Dương Công Minh, Chủ tịch hội đồng quản trị tập đoàn Him Lam cho rằng, mắc ca là loại cây dài ngày, việc thu hoạch chỉ bắt đầu sau 3 năm, và trong khoảng 5 năm thì người dân sẽ thu hồi vốn, do vậy LienvietPostbank sẽ cho vay dài hạn từ 10-15 năm đối với các hộ dân trồng cây mắc ca; lãi suất cho vay sẽ dưới 10%, giải ngân theo từng chu kỳ phát triển của cây.

Ngoài ra, tập đoàn Him Lam cũng dành một nguồn tiền từ nguồn an sinh xã hội để mua bảo hiểm nông nghiệp cho người dân trồng cây mắc ca; giúp cho nông dân nếu kinh doanh khó khăn cũng sẽ có công ty bảo hiểm gánh vác.

Ngoài hỗ trợ việc trồng cây, tập đoàn Him Lam sẽ sớm xây nhà máy chế biến mắc ca tại Tây Nguyên, sẽ mời nhiều nhà đầu tư tham dự đầu tư vào dự án, đây cũng là cách tốt nhất để nông dân bớt lo đầu ra cho loại cây này, và tăng được giá trị thặng dư cho cây mắc ca.

Ông Vương Đình Huệ, Trưởng ban Kinh tế Trung ương cho rằng việc phát triển cây mắc ca ở Việt Nam có nhiều tiềm năng, trong đó có hai vùng phù hợp là Tây Nguyên và Tây Bắc, nhưng đến nay, Việt Nam chưa có chiến lược phát triển bền vững và tránh bẫy trở thành quốc gia cung cấp nguyên liệu giá rẻ.

Để khuyến khích nông dân đầu tư phát triển cây mắc-ca, Chính phủ đã có Nghị định số 210/2013/NĐ-CP về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn có hiệu lực từ ngày 10-2-2014 quy định: “Các dự án trồng cây mắc-ca có quy mô từ 50 héc ta trở lên được ngân sách nhà nước hỗ trợ 15 triệu đồng/héc ta để xây dựng đồng ruộng, cây giống; hỗ trợ xây dựng cơ sở sản xuất giống cây mắc ca quy mô 500.000 cây giống/năm trở lên, mức hỗ trợ tối đa là 70% chi phí đầu tư/cơ sở …”.

Nông dân trồng mắc ca cần gì?

Ông Đoàn Lê Đức, nông dân trồng mắc ca tại Tuy Đức, Đắc Nông:

"Trồng cây mắc ca giải quyết bài toán đất trên 700 m2, cây mắc ca chịu hạn được, tốn ít phân bón và trâu bò không ăn lá. Cây này cũng ít sâu bệnh hơn. Hai cái cơ bản là trồng ở độ cao trên 700 m và phù hợp với tập quán của người dân.

Giá trị kinh tế của mắc ca hơn cà phê vì vốn đầu tư ít, phù hợp với tập quán canh tác của bà con. Giá trị kinh tế của mắc ca là 5,5 đô la Mỹ/kg trái tươi còn cà phê chỉ từ 2,5 – 3 đô la Mỹ.
Tuy vậy chúng tôi cũng gặp khó khăn nhiều về vốn, và giống. Mắc ca có hơn 10 loại giống, mỗi vườn cần tổ hợp giống phù hợp. Có nhiều loại giống được nhập về nhưng chưa được công nhận nên không dám đưa cho bà con trồng. Cây mắc ca không thụ phấn chéo nên trên một diện tích cần nhiều loại giống."

Hiện Tuy Đức có khu giống nhưng chỉ phục vụ được 10 ha, trong khi nhu cầu lên tới 30 ha.

Thursday, January 15, 2015

Thái Lan rót vốn dồn dập vào Việt Nam

Các “đại gia” Thái Lan đang mạnh tay đổ vốn mua lại cổ phần nhiều doanh nghiệp lớn của Việt Nam. 

Thông tin tỉ phú Thái Lan Chirathivat chi 200 triệu USD “thâu tóm” Nguyễn Kim được giới làm ăn bàn tán sôi nổi mấy ngày qua. Dù Nguyễn Kim chưa lên tiếng về thương vụ mua bán, sáp nhập (M&A) này nhưng việc Tổng Giám đốc Central Group Việt Nam Philippe Broianig vừa nắm giữ chức tổng giám đốc Nguyễn Kim đã khẳng định tính xác thực của thương vụ.

Tăng tốc đầu tư

Như vậy, với việc Công ty Power Buy (công ty con của Tập đoàn Central Group - Thái Lan) chuyên về bán lẻ hàng điện máy, điện tử mua 49% cổ phần Công ty CP Đầu tư Phát triển Công nghệ và Giải pháp mới NKT (chủ sở hữu Công ty Thương mại Nguyễn Kim), Central Group chính thức dấn sâu hơn vào thị trường bán lẻ Việt Nam. Trước đó, Central Group đã đầu tư phát triển hệ thống trung tâm thương mại thời trang gồm 2 trung tâm Robins tại TP HCM và Hà Nội.
 
Tỉ phú Thái Lan đã chi 200 triệu USD để sở hữu 49% cổ phần điện máy Nguyễn Kim Ảnh: Tấn Thạnh

Không chỉ Central Group, vài năm trở lại đây, các tập đoàn lớn của Thái Lan dồn dập đầu tư vào Việt Nam thông qua nhiều dự án lớn và các thương vụ M&A. Thương vụ mua lại chuỗi siêu thị Metro Cash & Carry Việt Nam của Tập đoàn Berli Jucker (BJC) sở hữu bởi tỉ phú giàu thứ 3 Thái Lan Charoen Sirivadhanabhakdi dù có nguy cơ bất thành do cổ đông BJC phản đối nhưng lãnh đạo BJC vẫn quyết không lùi bước. Ngoài ra, thông qua các công ty con, tỉ phú này cũng đã nâng tỉ lệ sở hữu cổ phần ở Vinamilk lên 11% và có nhiều khoản đầu tư lớn tại Việt Nam trong lĩnh vực bất động sản, đồ uống như có cổ phần trong khách sạn 5 sao Melia Hanoi, tòa nhà Melinh Point Tower ở TP HCM và gián tiếp nắm quyền chi phối ở Nhà máy Bia Việt Nam, đang có ý định mua cổ phần của Tổng Công ty CP Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco).

Tập đoàn Chăn nuôi CP (Charoen Pokphand Group) vào Việt Nam từ năm 1988 bằng việc mở văn phòng đại diện tại TP HCM. Sau một thời gian dài hoạt động, hiện CP không chỉ cung cấp trứng gia cầm mà còn dẫn đầu lĩnh vực sản xuất thức ăn chăn nuôi và thủy sản tại Việt Nam. Tập đoàn SCG (Siam Cement Group) chuyên về các lĩnh vực giấy, xi-măng, vật liệu xây dựng và đang có ý định thâu tóm lĩnh vực vật liệu xây dựng Việt Nam. Song song đó, SCG thông qua đơn vị thành viên là The Nawaplastic Industries (Saraburi) nắm giữ lượng lớn cổ phần của 2 doanh nghiệp (DN) nhựa lớn là Nhựa Thiếu niên Tiền Phong và Nhựa Bình Minh.

Cuối năm 2014, trong buổi diện kiến Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, lãnh đạo Tập đoàn Central Group, Chủ tịch Tập đoàn Dầu khí Thái Lan (PTT) và Chủ tịch Tập đoàn Amata cũng đã trình bày mong muốn và các kế hoạch đẩy mạnh đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn lên đến hàng chục tỉ USD.

Tầm ngắm: Tiêu dùng, bán lẻ, nông nghiệp

Theo Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến cuối năm 2014, Thái Lan là quốc gia đứng thứ ba trong khu vực ASEAN có đầu tư vào Việt Nam (sau Singapore, Malaysia) với 371 dự án, tổng vốn 6,7 tỉ USD (chiếm 14% tổng số dự án và 12% tổng vốn đầu tư của ASEAN tại Việt Nam). Các chuyên gia kinh tế cho rằng Việt Nam đang là điểm đến yêu thích của nhiều tỉ phú Thái Lan với hàng loạt dự án lớn và các thương vụ M&A trong ngành bán lẻ, tiêu dùng. So với các thị trường khác trong khu vực, Việt Nam là thị trường gần, nhiều tiềm năng với mức tăng trưởng ổn định, dân số đông và đặc biệt là cửa ngõ để tiến vào thị trường Lào, Campuchia và miền Nam Trung Quốc. Chính phủ 2 nước cũng đã ký chương trình hành động để triển khai quan hệ đối tác chiến lược, đặt mục tiêu đến năm 2020 tăng kim ngạch thương mại lên 15 tỉ USD.

Qua nhiều năm theo dõi, giám đốc một quỹ đầu tư nước ngoài cho rằng các nhà đầu tư Thái Lan đã và đang đổ bộ vào Việt Nam đều là những tập đoàn lớn có quy mô đa quốc gia, mạnh về tài chính và có kinh nghiệm quản lý, hoạt động trong những lĩnh vực chính của họ. Nhiều “ông lớn” đã thành công ở các lĩnh vực liên quan đến tiêu dùng, bán lẻ, nông nghiệp, kể cả hạ tầng. “Nhìn ở góc độ tích cực, nhà đầu tư ngoại vào càng nhiều, cùng quản lý, điều hành hoạt động của DN Việt thì DN trong nước càng có nhiều cơ hội cọ xát, học hỏi kinh nghiệm. Dĩ nhiên, áp lực cạnh tranh sẽ gia tăng nếu DN nội không có nền tảng tốt và những bước đi phù hợp thì dễ bị thâu tóm, mất thị phần về tay DN ngoại” - vị này nhận định.

 “Săn” doanh nghiệp chưa lên sàn

Lý giải vì sao các tỉ phú người Thái không đầu tư trên sàn chứng khoán mà mê “săn” các DN chưa niêm yết, tổng giám đốc một công ty chứng khoán cho rằng điều dễ nhận thấy là trên sàn chứng khoán hiện nay số lượng DN niêm yết không nhiều, đặc biệt là DN thuộc ngành hàng tiêu dùng, nông nghiệp... có quy mô lớn và hoạt động hiệu quả. Quan trọng hơn là hầu hết các DN trên sàn đã hết “room” dành cho nhà đầu tư nước ngoài; việc đàm phán mua lại DN chưa niêm yết thuận lợi hơn cho nhà đầu tư so với DN đã niêm yết.

Theo Thanh Nhân - Sơn Nhung
Người Lao động

Thursday, December 25, 2014

Tại sao giá cả hàng hóa cơ bản lại giảm?

Tại sao trong thời gian gần đây, giá của không chỉ dầu lửa mà các loại hàng hóa cơ bản nói chung đều giảm? Trong bài phân tích này, tác giả đưa ra cách lý giải dựa trên chính sách tiền tệ của Mỹ.

Suy trầm trên toàn thế giới?

Giá dầu đã giảm mạnh 40% kể từ tháng 6 – tin tốt cho các nước nhập khẩu dầu mỏ, nhưng lại là tin xấu đối với Nga, Venezuela, Nigeria, và các nước xuất khẩu dầu khác. Một số người cho rằng dầu sụt giá là do sự bùng nổ năng lượng đá phiến của Mỹ. Những người khác lại cho là do OPEC thất bại trong việc đạt được thỏa thuận về hạn chế nguồn cung.
Câu chuyện không chỉ có thế. Giá quặng sắt cũng giảm. Giá vàng, bạc, và bạch kim cũng tương tự. Điều này cũng đúng đối với giá đường, bông, và đậu tương. Thực tế là giá cả của hầu hết các mặt hàng cơ bản tính bằng đồng đô la đã giảm kể từ nửa đầu năm nay. Mặc dù một loạt các yếu tố ngành hàng cụ thể ảnh hưởng đến giá cả của từng loại hàng hóa, việc xu hướng sụt giảm rộng như vậy – thường tương tự như trường hợp tăng giá lớn – cho thấy các yếu tố kinh tế vĩ mô đang có tác động.

Vậy thì những yếu tố kinh tế vĩ mô nào đang khiến giá cả hàng hóa cơ bản tụt giảm? Có thể là do giảm phát. Nhưng dù lạm phát là rất thấp, thậm chí ở mức âm ở một số quốc gia, thì phải có một điều gì khác hơn thế đang diễn ra, bởi giá cả hàng hóa cơ bản đang giảm trong tương quan so với mức giá cả nói chung. Nói cách khác, giá cả hàng hóa cơ bản thực tế đang giảm.

Cách giải thích phổ biến nhất là do tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu, bởi thế nhu cầu năng lượng, khoáng sản và các sản phẩm nông nghiệp cũng giảm theo. Thật vậy, tốc độ tăng trưởng đã chậm lại và dự báo GDP đã bị điều chỉnh giảm xuống kể từ giữa năm ở hầu hết các nước.

Nhưng Mỹ là một ngoại lệ điển hình. Sự tăng trưởng của Mỹ dường như đã đứng vững, với tốc độ tăng trưởng hàng năm ước tính vượt quá 4% trong hai quý cuối cùng. Tuy nhiên ngay cả giá cả hàng hóa cơ bản ở Mỹ cũng đang sụt giảm. Chẳng hạn, Chỉ số Giá cả hàng hóa cơ bản tính bằng đồng euro của tờ The Economist thực tế là đã tăng so với năm trước; chỉ có chỉ số tính bằng đồng đô la – thứ thu hút mọi sự chú ý – là đi xuống.

Đồng USD lên giá?

Điều đó khiến chúng ta nghĩ tới chính sách tiền tệ, một yếu tố quyết định giá cả hàng hóa mà tầm quan trọng của nó thường bị bỏ quên. Nhiều người dự đoán việc thắt chặt tiền tệ sẽ diễn ra tại Mỹ, bởi Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Fed) đã chấm dứt gói nới lỏng định lượng hồi tháng 10 và có khả năng sẽ tăng lãi suất ngắn hạn trong năm tới.

Điều này nhắc chúng ta nhớ lại một mẫu hình lịch sử quen thuộc. Việc tỷ lệ lãi suất thực tế - lãi suất sau khi trừ lạm phát - giảm trong những năm 1970, 2002-2004, và 2007-2008 đi kèm với việc giá cả thực tế tăng; còn việc lãi suất thực tế ở Mỹ tăng mạnh những năm 1980 đã đẩy giá cả hàng hóa tính theo đồng đô la sụt giảm.

Có gì đó trực quan trong ý tưởng rằng khi Fed “in tiền”, dòng tiền đổ vào nhiều nơi trong đó có hàng hóa cơ bản và do đó đẩy giá cả hàng hóa cơ bản tăng lên, bởi vậy mà giá cả sẽ giảm khi lãi suất tăng. Nhưng chính xác thì cơ chế nhân quả ở đây là gì?

Trên thực tế, lãi suất thực tế ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa thực tế qua bốn kênh, bên cạnh các tác động mà nó tạo ra thông qua mức độ hoạt động kinh tế.

Thứ nhất, lãi suất cao làm giảm giá cả các mặt hàng có thể lưu trữ được bằng cách gia tăng khuyến khích khai thác trong hôm nay hơn là ngày mai, qua đó thúc đẩy tốc độ khai thác dầu mỏ, quặng vàng, hay gỗ.

Thứ hai, lãi suất cao cũng khiến các công ty giảm ham muốn tích trữ hàng tồn kho (ví dụ như dầu trong các bể chứa).

Thứ ba, các nhà quản lý danh mục đầu tư đáp lại sự gia tăng lãi suất bằng cách chuyển từ hợp đồng hàng hóa cơ bản (mà bây giờ được coi là một “loại tài sản”) sang trái phiếu chính phủ. Cuối cùng, lãi suất cao củng cố đồng nội tệ, do đó làm giảm giá nhập khẩu các mặt hàng cơ bản được buôn bán quốc tế (ngay cả khi giá cả của chúng chưa giảm nếu tính bằng ngoại tệ).

Lãi suất của Mỹ chưa thực sự tăng lên trong năm 2014, vì vậy hầu hết các cơ chế này chưa trực tiếp hoạt động. Nhưng các nhà đầu cơ đang suy tính trước và chuyển dịch khỏi các mặt hàng cơ bản hiện nay với dự đoán lãi suất tương lai cao hơn trong năm 2015; kết quả là sự tăng giá đáng lẽ diễn ra trong năm tới đã đến sớm hơn vào hôm nay.

Thứ tư, tỷ giá đã bắt đầu hoạt động. Viễn cảnh Mỹ thắt chặt tiền tệ trùng hợp với động thái tăng cường kích thích tiền tệ của Ngân hàng Trung ương châu Âu và Ngân hàng Nhật Bản. Kết quả là đồng đô la đã tăng giá so với đồng euro và đồng yên.

Đồng euro đã giảm 8% so với đồng đô la kể từ nửa đầu năm nay và mức giảm của đồng yên là 14%. Điều đó giải thích tại sao giá cả hàng hóa cơ bản tính bằng đồng đô la giảm trong khi tính bằng các loại tiền tệ khác lại tăng.
Effey Frankel - Giáo sư trường Kennedy, Đại học Harvard
Thời Báo Ngân Hàng