Showing posts with label hàng hóa. Show all posts
Showing posts with label hàng hóa. Show all posts

Thursday, December 25, 2014

Tại sao giá cả hàng hóa cơ bản lại giảm?

Tại sao trong thời gian gần đây, giá của không chỉ dầu lửa mà các loại hàng hóa cơ bản nói chung đều giảm? Trong bài phân tích này, tác giả đưa ra cách lý giải dựa trên chính sách tiền tệ của Mỹ.

Suy trầm trên toàn thế giới?

Giá dầu đã giảm mạnh 40% kể từ tháng 6 – tin tốt cho các nước nhập khẩu dầu mỏ, nhưng lại là tin xấu đối với Nga, Venezuela, Nigeria, và các nước xuất khẩu dầu khác. Một số người cho rằng dầu sụt giá là do sự bùng nổ năng lượng đá phiến của Mỹ. Những người khác lại cho là do OPEC thất bại trong việc đạt được thỏa thuận về hạn chế nguồn cung.
Câu chuyện không chỉ có thế. Giá quặng sắt cũng giảm. Giá vàng, bạc, và bạch kim cũng tương tự. Điều này cũng đúng đối với giá đường, bông, và đậu tương. Thực tế là giá cả của hầu hết các mặt hàng cơ bản tính bằng đồng đô la đã giảm kể từ nửa đầu năm nay. Mặc dù một loạt các yếu tố ngành hàng cụ thể ảnh hưởng đến giá cả của từng loại hàng hóa, việc xu hướng sụt giảm rộng như vậy – thường tương tự như trường hợp tăng giá lớn – cho thấy các yếu tố kinh tế vĩ mô đang có tác động.

Vậy thì những yếu tố kinh tế vĩ mô nào đang khiến giá cả hàng hóa cơ bản tụt giảm? Có thể là do giảm phát. Nhưng dù lạm phát là rất thấp, thậm chí ở mức âm ở một số quốc gia, thì phải có một điều gì khác hơn thế đang diễn ra, bởi giá cả hàng hóa cơ bản đang giảm trong tương quan so với mức giá cả nói chung. Nói cách khác, giá cả hàng hóa cơ bản thực tế đang giảm.

Cách giải thích phổ biến nhất là do tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu, bởi thế nhu cầu năng lượng, khoáng sản và các sản phẩm nông nghiệp cũng giảm theo. Thật vậy, tốc độ tăng trưởng đã chậm lại và dự báo GDP đã bị điều chỉnh giảm xuống kể từ giữa năm ở hầu hết các nước.

Nhưng Mỹ là một ngoại lệ điển hình. Sự tăng trưởng của Mỹ dường như đã đứng vững, với tốc độ tăng trưởng hàng năm ước tính vượt quá 4% trong hai quý cuối cùng. Tuy nhiên ngay cả giá cả hàng hóa cơ bản ở Mỹ cũng đang sụt giảm. Chẳng hạn, Chỉ số Giá cả hàng hóa cơ bản tính bằng đồng euro của tờ The Economist thực tế là đã tăng so với năm trước; chỉ có chỉ số tính bằng đồng đô la – thứ thu hút mọi sự chú ý – là đi xuống.

Đồng USD lên giá?

Điều đó khiến chúng ta nghĩ tới chính sách tiền tệ, một yếu tố quyết định giá cả hàng hóa mà tầm quan trọng của nó thường bị bỏ quên. Nhiều người dự đoán việc thắt chặt tiền tệ sẽ diễn ra tại Mỹ, bởi Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Fed) đã chấm dứt gói nới lỏng định lượng hồi tháng 10 và có khả năng sẽ tăng lãi suất ngắn hạn trong năm tới.

Điều này nhắc chúng ta nhớ lại một mẫu hình lịch sử quen thuộc. Việc tỷ lệ lãi suất thực tế - lãi suất sau khi trừ lạm phát - giảm trong những năm 1970, 2002-2004, và 2007-2008 đi kèm với việc giá cả thực tế tăng; còn việc lãi suất thực tế ở Mỹ tăng mạnh những năm 1980 đã đẩy giá cả hàng hóa tính theo đồng đô la sụt giảm.

Có gì đó trực quan trong ý tưởng rằng khi Fed “in tiền”, dòng tiền đổ vào nhiều nơi trong đó có hàng hóa cơ bản và do đó đẩy giá cả hàng hóa cơ bản tăng lên, bởi vậy mà giá cả sẽ giảm khi lãi suất tăng. Nhưng chính xác thì cơ chế nhân quả ở đây là gì?

Trên thực tế, lãi suất thực tế ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa thực tế qua bốn kênh, bên cạnh các tác động mà nó tạo ra thông qua mức độ hoạt động kinh tế.

Thứ nhất, lãi suất cao làm giảm giá cả các mặt hàng có thể lưu trữ được bằng cách gia tăng khuyến khích khai thác trong hôm nay hơn là ngày mai, qua đó thúc đẩy tốc độ khai thác dầu mỏ, quặng vàng, hay gỗ.

Thứ hai, lãi suất cao cũng khiến các công ty giảm ham muốn tích trữ hàng tồn kho (ví dụ như dầu trong các bể chứa).

Thứ ba, các nhà quản lý danh mục đầu tư đáp lại sự gia tăng lãi suất bằng cách chuyển từ hợp đồng hàng hóa cơ bản (mà bây giờ được coi là một “loại tài sản”) sang trái phiếu chính phủ. Cuối cùng, lãi suất cao củng cố đồng nội tệ, do đó làm giảm giá nhập khẩu các mặt hàng cơ bản được buôn bán quốc tế (ngay cả khi giá cả của chúng chưa giảm nếu tính bằng ngoại tệ).

Lãi suất của Mỹ chưa thực sự tăng lên trong năm 2014, vì vậy hầu hết các cơ chế này chưa trực tiếp hoạt động. Nhưng các nhà đầu cơ đang suy tính trước và chuyển dịch khỏi các mặt hàng cơ bản hiện nay với dự đoán lãi suất tương lai cao hơn trong năm 2015; kết quả là sự tăng giá đáng lẽ diễn ra trong năm tới đã đến sớm hơn vào hôm nay.

Thứ tư, tỷ giá đã bắt đầu hoạt động. Viễn cảnh Mỹ thắt chặt tiền tệ trùng hợp với động thái tăng cường kích thích tiền tệ của Ngân hàng Trung ương châu Âu và Ngân hàng Nhật Bản. Kết quả là đồng đô la đã tăng giá so với đồng euro và đồng yên.

Đồng euro đã giảm 8% so với đồng đô la kể từ nửa đầu năm nay và mức giảm của đồng yên là 14%. Điều đó giải thích tại sao giá cả hàng hóa cơ bản tính bằng đồng đô la giảm trong khi tính bằng các loại tiền tệ khác lại tăng.
Effey Frankel - Giáo sư trường Kennedy, Đại học Harvard
Thời Báo Ngân Hàng

Saturday, December 13, 2014

Cách kiếm tiền khi giá dầu giảm

Làm cách nào mà một nhà đầu tư đặt cược vào giá dầu có thể kiếm tiền khi giá dầu thô giảm tới 18% chỉ trong 1 tháng? Câu trả lời là bằng cách đồng thời đặt cược vào đồng USD. Đó là cách làm của Andrew J. Hall, nhà đầu tư vốn nổi tiếng thế giới 
Andrew J. Hall, nhà đầu tư vốn nổi tiếng vì đã dự báo chính xác về những biến động lớn trên thị trường, đã chứng kiến lợi suất thu được từ quỹ đầu cơ hàng hóa của ông tăng 1% trong tháng 11. Hall hiện đang rời khỏi chức vụ CEO của Phibro LLC, công ty giao dịch hàng hóa 100 tuổi hiện thuộc sở hữu của Occidental Petroleum Corp., để tập trung vào quỹ đầu tư của riêng mình.

Nhà đầu tư 64 tuổi nhận được mức lợi suất bất ngờ nhờ đặt cược vào đồng bạc xanh và kịp thời bán các hợp đồng phái sinh dầu thô ngay trước khi dầu rớt giá mạnh. 
Trong lá thư gửi tới nhà đầu tư hôm 1/12, ông vẫn nhận định rằng trong dài hạn dầu sẽ tăng giá và cuộc cách mạng dầu đá phiến ở Mỹ đã bị thổi phồng quá mức. Hall dự đoán giá dầu sẽ giảm xuống mức 50 USD/thùng trước khi hồi phục trong 6 tháng đầu năm 2015.
Hall nhận định Saudi Arabia đã hành động đúng đắn khi quyết định không cắt giảm sản lượng sau cuộc họp của OPEC hồi tháng trước. Nguồn cung trên thị trường đang dồi dào quá mức, khiến bất cứ nỗ lực nào nhằm bình ổn giá ở mức 90 USD/thùng đều trở nên “ngu ngốc”.
Ông cho rằng trong những năm gần đây thế giới đã đầu tư quá nhiều để đẩy tăng sản lượng, đặc biệt là ở Mỹ - nơi các nhà sản xuất có thể khoan giếng bằng những đồng tiền đi vay với chi phí thấp. Ông cũng thường xuyên nhận định bong bóng dầu sẽ đổ vỡ sớm hơn so với dự đoán. 

Với tư cách là CEO của Phibro, Hall nổi danh trong cuộc khủng hoảng 2009 nhờ nhận được mức lương 9 con số khi Phibro vẫn thuộc sở hữu của Citigroup Inc. Trước khi Occidental mua lại Phibro, công ty này có lãi trong mọi năm tài chính kể từ năm 1997. 
Trong quá khứ, chiến lược của Hall là mua vào các hợp đồng tương lai với mức giá thấp hơn giá hiện tại bởi ông tin rằng giá chắc chắn sẽ tăng. Hồi tháng 2, giá dầu WTI giao tháng 12/2019 ở mức 76 USD/thùng trong khi mức giá trên thị trường là 100 USD/thùng. Đến tháng 7, các hợp đồng giao năm 2019 được bán với giá 88 USD/thùng, tức tăng 16%. 


Tuy nhiên, đến tháng 8 và tháng 9, Hall tuyên bố sẽ cắt giảm rủi ro và bán một lượng lớn các hợp đồng dầu mỏ tương lai. Với dầu WTI hiện ở mức giá 62,53 USD/thùng, Hall đã thắng lớn. 
Khi giá dầu giảm, ông đầu tư vào đồng USD. Trong khi giá dầu lao dốc không phanh và chạm đáy thấp nhất 5 năm, chỉ số Bloomberg Dollar Spot Index đã tăng giá so với 10 đồng tiền chủ chốt khác và tăng tổng cộng 15% trong tháng 11.
Là một trong những công ty giao dịch hàng hóa có lịch sử lâu đời, Phibro giúp hình thành nên thị trường giao dịch dầu mỏ hiện đại với hơn 2.000 nhân viên hoạt động trên toàn thế giới. Năm 1981, công ty này đã phát triển đến mức đủ lớn để mua lại ngân hàng đầu tư Salomon Brothers.
 
Được thành lập năm 1901 với cái tên Philipp Brothers và tập trung giao dịch các loại kim loại và hóa chất, Phibro bắt đầu bước vào thị trường dầu mỏ từ năm 1973, khi lệnh cấm vận dầu mỏ áp đặt lên Arab khiến giá dầu tăng cao và buộc các công ty lọc dầu Mỹ phải tìm kiếm nguồn cung khác. 

Theo Infonet

Monday, November 24, 2014

Bloomberg: Nhiều người Việt giàu lên nhờ hạt tiêu

Khi những người sản xuất khác đang đau đầu vì giá hàng hóa giảm, từ dầu thô, sắt cho đến đậu tương, người trồng hạt tiêu Việt Nam lại đang phất lên.

Giá hạt tiêu đen thế giới hiện ở mức 9 USD một kg, gần gấp 5 so với một thập kỷ trước. Trong khi đó, hạt tiêu trắng lên gần gấp 3, ở 13 USD, theo Hội đồng Hạt tiêu quốc tế. Lượng tiêu thụ đã vượt cung suốt 8 năm qua, do nhu cầu gia vị tăng khi người châu Á ngày càng tiêu thụ nhiều thịt, ông Greg Estep - Giám đốc mảng rau và gia vị toàn cầu tại Olam International (Singapore) cho biết.

Quy mô thị trường xuất khẩu hạt tiêu toàn cầu đã tăng lên 2,5 tỷ USD. Sản lượng tại Việt Nam tăng 15 lần trong 2 thập kỷ qua, vượt Ấn Độ thành nhà cung cấp hạt tiêu lớn nhất thế giới, Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) cho biết.

"Tôi đến mảnh đất này với hai bàn tay trắng. Nhưng thu nhập nhờ hạt tiêu đã giúp tôi nuôi cả gia đình, mua xe máy và xây nhà", anh Nguyen Van Thanh (54 tuổi) - một nông dân trồng hạt tiêu tại Dắk Lắk cho biết.
Công nhân đang lọc hạt tiêu tại một nhà máy ở Hà Nội. Ảnh: Bloomberg
Thanh hiện thu hoạch khoảng 4,5 đến 5 tấn hạt tiêu mỗi năm trên 1,5 hecta đất tại Tây Nguyên. Anh bán được với giá 190.000 đồng mỗi kg, gấp hơn 9 lần chi phí sản xuất.

Bloomberg nhận xét nông nghiệp Việt Nam đã được đẩy mạnh sau công cuộc Đổi mới thập niên 80, giúp nông dân tiếp cận thị trường quốc tế. Họ đã trồng nhiều cà phê, gạo và hạt tiêu hơn. năm 2012, Việt Nam sản xuất 1,3 triệu tấn cà phê, gấp 11 lần trong 2 thập kỷ qua và đứng thứ 2 thế giới chỉ sau Brazil, theo FAO.

Trong nhiều thế kỷ, Ấn Độ và Indonesia là những nước cung cấp hạt tiêu lớn nhất thế giới, Marjorie Shaffer - tác giả cuốn "Hạt tiêu: Lịch sử loại gia vị quyền lực nhất thế giới" cho biết. Dù hạt tiêu là sản phẩm truyền thống của Việt Nam, nước này chỉ mới nổi lên thời gian gần đây.

"Trước những năm 90, chúng tôi thậm chí không sản xuất đủ hạt tiêu cho tiêu dùng trong nước. Sau đó, sản lượng bắt đầu tăng đáng kinh ngạc sau khi Việt Nam mở cửa nền kinh tế", ông Đỗ Hà Nam - Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam cho biết.

Năm ngoái, Việt Nam thu hoạch 122.000 tấn hạt tiêu, bằng một phần ba sản lượng toàn cầu. Trong khi đó, Indonesia chỉ 63.000 tấn và Ấn Độ là 58.000 tấn, theo số liệu của IPC.

Giá hạt tiêu tăng đã giúp người nông dân giàu lên, có tiền mua nhà và ôtô, ông Nam cho biết. Gần một nửa lực lượng lao động của Việt Nam hiện làm trong lĩnh vực nông nghiệp - đóng góp 20% GDP, theo CIA World Factbook.

"Việt Nam đang trở thành thị trường ngày càng quan trọng, do tập trung vào xuất khẩu và tiêu thụ trong nước không tăng quá nhanh. Họ duy trì rất tốt năng suất và sản lượng", Estep cho biết.
Người trồng hạt tiêu ở Việt Nam thường có các trang trại nhỏ, diện tích từ 1-2 hecta, theo IPC. Sản lượng thu về đạt trung bình 2,2 tấn mỗi hecta, so với chỉ 400-500 kg của Indonesia.

Sản lượng tại Việt Nam sẽ ổn định khoảng 130.000-150.000 tấn năm tới, ông Nam cho biết. Giá cả cũng sẽ được duy trì tại 7.000-8.000 USD mỗi tấn. Với anh Thanh, giá này là quá đủ cho kế hoạch mở rộng sản xuất tới đây.
Theo Vnexpress