Showing posts with label Tăng trưởng. Show all posts
Showing posts with label Tăng trưởng. Show all posts

Friday, January 23, 2015

Kinh tế Việt Nam đã chính thức hồi phục

Theo các nhận định của các chuyên gia tại “Hội thảo Kịch bản Kinh tế Việt Nam 2015: Hội nhập sâu rộng, cạnh tranh khốc liệt” sáng nay (22/1), nền kinh tế Việt Nam đã phục hồi, tuy nhiên năm 2015 vẫn còn nhiều thách thức.

Kinh tế có bước phục hồi
Để trả lời câu hỏi, kinh tế Việt Nam năm 2015 có thực sự phục hồi chưa và năm 2015, Chính phủ định hướng gì cho doanh nghiệp trước thách thức? Ông Trần Du Lịch, Ủy viên Ủy ban Kinh tế Quốc hội, cho biết, từ quý III/2013, kinh tế Việt Nam đã bắt đầu phục hồi. Về vĩ mô, chúng ta đã đầy lùi được bóng ma lạm phát. Tất cả chính sách tài khóa, kể cả bội chi và chính sách tiền tệ đều không gây ra lạm phát. Dư địa để chính sách lớn bước sang 2015 rất thuận lợi.
Trên địa bàn TP. HCM, nếu năm 2014, doanh nghiệp hình thành 3 nhóm rõ nét, là làm ăn tốt ngay trong thời kỳ kinh tế khó khăn; chống đỡ cực kỳ khó khăn để tồn tại cho đến hôm nay; và ngừng hoạt động, thì đến năm 2015, tình hình đã cải thiện hơn. Cụ thể, nhóm thứ nhất sẽ lớn mạnh và nhóm thứ hai sẽ phát triển ổn định, tiến tới việc có một số doanh nghiệp gia nhập nhóm đầu tiên.
Nói về những định hướng của Chính phủ trong 2015, chưa bao giờ chính sách vĩ mô nhất quán như bây giờ, là không nóng vội để xử lý tăng trưởng, mà ổn định kinh tế vĩ mô, hoàn thiện hệ thống pháp luật thông thoáng. “Tôi kỳ vọng kinh tế Việt Nam năm 2015 vượt qua 6,2%”, ông Lịch nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, ông Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, đánh giá, năm 2015 sẽ có những vấn đề chủ chốt được khơi thông, như chính sách tiền tệ về tín dụng và quản lý nợ xấu, hội nhập quốc tế, cải cách cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, hệ thống ngân hàng, đầu tư công và giám sát tài chính nhằm phòng ngừa rủi ro.
Bà Nguyễn Thị Hồng, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết, năm 2014 là năm thể hiện rõ nhất sự phục hồi trong lĩnh vực tiền tệ. Điều đáng chú ý là trên thị trường tiền tệ, trần lãi suất huy động chỉ áp dụng kỳ hạn 6 tháng và trên 6 tháng, đã giúp lãi suất không còn là công cụ cạnh tranh, giúp các tổ chức tín dụng có nguồn vồn dài và ổn định hơn. Thị trường ngoại hối và thị trường vàng năm qua khá ổn định.
Về thị trường bất động sản, ông Marc Townsend, Giám đốc điều hành CBRE Việt Nam cho biết: “Chúng ta nhìn thấy một lần nữa dòng tiền chảy vào thị trường bất động sản”.
Dự báo về triển vọng năm 2015, ông Marc Townsend cho biết, năm 2015, thị trường Việt Nam vẫn nằm trong những thị trường Đông Nam Á dẫn đầu về tỷ suất lợi nhuận cho thuê căn hộ và văn phòng. Sẽ có sự trở lại của thị trường nhà nghỉ dưỡng, vấn đề tiếp thị và thương hiệu ngày càng quan trọng và thị trường bất động sản bắt đầu xuất hiện các nhà đầu tư.  
Còn rất nhiều thách thức
Nói về những thách thức về kinh tế Việt Nam nói chung và thế giới nói riêng, ông Marc Townsend cho biết, thời điểm đen tối đã ở sau lưng, nhưng những vấn đề của toàn cầu và khu vực vẫn còn đó. Việt Nam phải đối mặt và giải quyết vấn đề chỉnh trang đô thị; sử dụng đất không đúng mục đích; quản trị con người, thông tin thị trường cần đầy đủ, minh bạch và kịp thời hơn.
Cũng theo ông Marc Townsend, đã đến lúc Việt Nam xem lại kế hoạch đầu tư vào các thành phố cấp 3 và 4, người mua nhà nên tỉnh táo để quyết định mua để ở hay mua để đầu tư. Những thách thức về định giá, nguồn vốn, sự minh bạch và kinh nghiệm vẫn còn.
Ông Lê Phước Vũ, Chủ tịch HĐQT CTCP Tập đoàn Hoa Sen cho biết, thách thức của kinh tế Việt Nam trong những năm tới vẫn còn. Các Hiệp định thương mại tự do như TPP, FTA là cơ hội nếu  các doanh nghiệp trong nước biết chuẩn bị nội lực, nếu không, tình trạng “hụt hơi” ngay trên sân nhà là điều không thể tránh khỏi.
Ngọc Quỳnh/Đầu Tư Chứng Khoán

Năm 2014, đầu tư theo chỉ số nào trên HOSE lãi nhất?

Trong năm 2014, chỉ số VN30 tăng trưởng chậm hơn so với năm 2013. Tính đến 25/12/2014, VN30 đạt 585,19 điểm, tăng 23,19 điểm, tương đương 4,13% so với ngày 01/01/2014 (năm 2013, VN30 tăng 14,34%), trong đó mức cao nhất là 689, 32 điểm (24/3/2014)  và mức thấp nhất là 560,11 điểm (13/05/2014).
Đến cuối quý III/2014, giá trị vốn hóa của các cổ phiếu trong VN30 đạt 633.319 tỷ đồng, chiếm 59,16 % tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường. Ảnh: Lê Toàn

VN30
Trong năm 2014, chỉ số VN30 tăng trưởng chậm hơn so với năm 2013. Tính đến 25/12/2014, VN30 đạt 585,19 điểm, tăng 23,19 điểm, tương đương 4,13% so với ngày 01/01/2014 (năm 2013, VN30 tăng 14,34%), trong đó mức cao nhất là 689, 32 điểm (24/3/2014)  và mức thấp nhất là 560,11 điểm (13/05/2014).

Giá trị vốn hóa của rổ VN30 vẫn khá ổn định, cuối quý III/2014, giá trị vốn hóa của các cổ phiếu trong VN30 đạt 633.319 tỷ đồng, chiếm 59,16% tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường, trong đó dẫn đầu là cổ phiếu VNM, đạt 105.012 tỷ đồng, bằng 9,81% so với toàn thị trường. 

Giá trị giao dịch bình quân của rổ VN30 tính đến hết quý III/2014 là 1.262 tỷ đồng/phiên, chiếm 59,51% tổng giá trị giao dịch bình quân của toàn thị trường. Trong đó, FLC là mã chứng khoán có giá trị giao dịch bình quân lớn nhất, gấp 1,26 lần mã chứng khoán VIC đứng ở vị trí thứ 2.

Tổng doanh thu của nhóm chỉ số VN30 sau 9 tháng đầu năm ước đạt 209.760 tỷ đồng, chiếm 50% tổng doanh thu toàn thị trường. Có 8 cổ phiếu VNM, HPG, VIC, PVD, FPT, DPM, HAG và REE) thuộc danh mục VN30 thường xuyên nằm trong top 10 công ty dẫn đầu về lợi nhuận trên toàn thị trường. Đến hết quý III/2014, gần 1 nửa số công ty thuộc VN30 đạt được mức lợi nhuận trên 70% kế hoạch, trong đó có 4 công ty hoàn thành kế hoạch lợi nhuận của năm 2014 là CII, CSM, HAG và HPG. 

VNM là mã cổ phiếu dẫn đầu các cổ phiếu trong rổ về doanh thu thuần, lợi nhuận sau thuế và chỉ tiêu ROA trong 9 tháng đầu năm 2014. HPG là cổ phiếu có ROE đứng đầu và ROA đứng thứ 2 trong rổ VN30. FPT, CTG, VIC là các mã tiếp theo chiếm được nhiều vị trí trong Top 3 về doanh thu thuần, lợi nhuận sau thuế, ROA và ROE (30/09/2014). Tuy nhiên, chốt tại thời điểm 25/12/2014, dẫn đầu về tăng giá trong nhóm VN30 lại là IJC với 48,31%, SSI (46,67%) và DRC (46,53%) so với giá đóng cửa ngày 02/01/2014.

VNMidcap
 
Chỉ số VNMidcap cuối ngày 25/12/2014 đạt 620,30 điểm, tăng 95,27 điểm, tương đương 18,15% so với ngày 01/01/2014. Cùng kỳ năm ngoái, VNMidcap tăng 30,32%. VNMidcap đạt mức cao nhất  678,41 điểm (10/7/2014) và mức thấp nhất 508,73 điểm (13/05/2014). 

Tổng giá trị vốn hóa của rổ VNMidcap tính đến hết 30/09/2014 đạt 111.813 tỷ đồng, chiếm 10,44% tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường. Trong đó, Top 10 cổ phiếu chiếm 37,84% giá trị vốn hóa của rổ với vị trí Top 3 lần lượt là DHG, KBC và VCF.

Giá trị giao dịch bình quân của rổ VNMidcap tính đến hết quý III/2014 là 465,99 tỷ đồng/phiên, chiếm 21,97% tổng giá trị giao dịch bình quân của toàn thị trường. SAM, HQC, HVG là 3 mã chứng khoán có giá trị giao dịch bình quân cao nhất nhóm chỉ số này.

Tổng doanh thu của nhóm chỉ số VNMidcap 9 tháng đầu năm ước đạt 95.550 tỷ đồng, chiếm 22,43% tổng doanh thu toàn thị trường. Tính đến hết quý III/2014, nhóm VNMidcap có chỉ tiêu ROA bình quân là 3,56%, chỉ tiêu ROE đạt 8,01%. Trong đó, cổ phiếu HVG có doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế cao nhất. Cổ phiếu DVP và CNG lần lượt chiếm vị trí cao nhất về chỉ tiêu ROA, ROE. Về tăng giá, HT1 đã có sự tăng trưởng lớn trong năm 2014, đến 25/12/2014, HT1 đạt được mức tăng lên đến 216,98% so với đầu năm, gấp đôi cổ phiếu DQC ở vị trí thứ 2 với mức tăng giá cũng rất đáng kể là 106,67%.
VNSmallcap
Chỉ số VNSmallcap có mức tăng trưởng tốt nhất trong nhóm HOSE Index, cuối ngày 25/12/2014, chỉ số này đạt 668,49 điểm, tăng 137,15 điểm, tương đương 25,81% so với ngày 02/01/2014, cùng kỳ năm ngoái, VNSmallcap tăng 122,53 điểm, tương đương 29,47%. VNSmallcap đạt mức cao nhất ở 744,71 điểm (20/11/2014) và mức thấp nhất ở 526,68 điểm (13/05/2014). 

Tổng giá trị vốn hóa của rổ VNSmallcap tính đến hết ngày 30/09/2014 đạt 42.833 tỷ đồng, chỉ chiếm 4% so với tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường, trong đó top 10 chiếm 19,25% so với giá trị vốn hóa toàn rổ. Cổ phiếu có mức vốn hóa lớn nhất là ASM, đạt 1.238 tỷ đồng.

Tuy giá trị vốn hóa thấp nhưng trong năm 2014, chỉ số VNSmallcap có tình hình giao dịch khá sôi động. Giá trị giao dịch bình quân của rổ VNSmallcap tính đến hết quý III/2014 là 271 tỷ đồng/phiên, chiếm 12,78% tổng giá trị giao dịch bình quân của toàn thị trường. Đây cũng là nhóm chỉ số có nhiều mã chứng khoán tăng giá mạnh nhất trong năm qua, có đến 4 cổ phiếu có mức tăng trên 150%, trong đó cao nhất là TSC với mức tăng đột biến, lên đến 353,85%.

Tổng doanh thu của nhóm chỉ số VNSmallcap 9 tháng đầu năm ước đạt 73.210 tỷ đồng, chiếm 17,19% tổng doanh thu toàn thị trường, dẫn đầu là cổ phiếu VMD, SMC và SAC, nhưng đứng đầu về lợi nhuận sau thuế lại là PTB, VHG và NNC. Tính đến hết quý III/2014, nhóm VNSmallcap có chỉ tiêu ROA đạt 0,17%, chỉ tiêu ROE đạt 0,17%, với DSN là mã chứng khoán dẫn đầu cả 2 chỉ tiêu này.
VNAllshare
 
Chỉ số VNAllshare cuối ngày 25/12/2014 đạt 543,55 điểm, tăng 35,12 điểm, tương đương 6,91% so với ngày 02/01/2014. Cùng kỳ năm ngoái, VNAllshare tăng 19,64%. VNAllshare đạt mức cao nhất ở 625,87 điểm (24/03/2014) và mức thấp nhất ở 502,10 điểm (13/05/2014).

Tổng giá trị vốn hóa của rổ VNAllshare tính đến hết ngày 30/09/2014 đạt 787.964 tỷ đồng, chiếm 73,60% so với tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường (do cổ phiếu GAS với giá trị vốn hóa hơn 200.000 tỷ đồng không thuộc VNAllshare). Giá trị giao dịch bình quân của rổ VNAllshare tính đến hết quý III/2014 là  2.000 tỷ đồng/phiên, chiếm 94,26% tổng giá trị giao dịch bình quân của toàn thị trường.
Tổng doanh thu của chỉ số VNAllshare 9 tháng đầu năm ước đạt 378.520 tỷ đồng, bằng 88,86% tổng doanh thu toàn thị trường. Hết quý III/2014, VNAllshare có chỉ tiêu ROA đạt 1,84%, chỉ tiêu ROE đạt 10,71%, với DSN là mã chứng khoán dẫn đầu cả 2 chỉ tiêu này.
* Các giá trị vốn hóa nêu trên đều chưa điều chỉnh free float
Đầu Tư Chứng Khoán

Tuesday, December 16, 2014

Bức tranh nhiều màu sắc của kinh tế thế giới 2015

Năm 2015 sẽ là năm của sự khác biệt và chia rẽ trên bình diện kinh tế toàn cầu, từ xu hướng phát triển, chính sách và thành tích của các nền kinh tế.

Khi mà năm mới chuẩn bị tới, những chia rẽ đó sẽ ngày càng khó để hòa hợp hơn và các nhà hoạch định chính sách toàn cầu đứng trước lựa chọn: vượt qua các trở ngại hay đối mặt với nguy cơ bất ổn kinh tế.

Kinh tế thế giới năm tới sẽ bị chi phối bởi 4 nhóm quốc gia. Nhóm đầu tiên, do Mỹ dẫn đầu, sẽ tiếp tục có những bước tiến trong nâng cao hiệu suất của nền kinh tế. Thị trường lao động sẽ tươi sáng hơn với nhiều công việc được tạo ra đi kèm với việc tiền lương được cải thiện. Những lợi ích từ sự tăng trưởng của nền kinh tế sẽ được phân phối công bằng hơn so với những năm vừa qua nhưng sự phân cách về giàu nghèo, mức độ thu nhập vẫn rất lớn.

Nhóm nước thứ 2, điển hình là Trung Quốc, giữ mức tăng trưởng ổn định và thấp hơn mức trung bình của những năm trước, đồng thời tiếp tục quá trình hoàn thiện cơ cấu của nền kinh tế. Các nước như Trung Quốc sẽ tiếp tục tái định hướng mô hình tăng trưởng để hướng tới sự phát triển bền vững hơn - một nỗ lực có thể đôi khi làm thị trường tài chính toàn cầu chao đảo nhưng không chệch hướng. Các nền kinh tế này sẽ nỗ lực tăng trưởng thị trường nội địa, nâng cao chất lượng các khung pháp lý, khuyến khích lĩnh vực kinh tế tư nhân và mở rộng quy mô của hoạt động quản lý nền kinh tế dựa trên yếu tố thị trường.

Nhóm thứ ba, dẫn dầu là các nước châu Âu, sẽ nỗ lực thoát khỏi tình trạng trì trệ, thực trạng đã gây nên những bất ổn chính trị xã hội tại một số nước và gây khó khăn cho việc ra các quyết sách của khu vực. Sự tăng trưởng èo uột, các nhân tố gây giảm phát và tình trạng nợ công sẽ gây cản trở cho hoạt động đầu tư, có thể dẫn tới những tác động tiêu cực hơn cho nền kinh tế. Ở một số nền kinh tế bị tác động mạnh nhất, tình trạng thất nghiệp, nhất là ở giới trẻ, sẽ vẫn ở mức cao đáng báo động và kéo dài.

Nhóm các nền kinh tế cuối cùng bao gồm các nước có nhiều yếu tố khó dự đoán, điển hình trong nhóm này là Nga. Nước này đang phải đối mặt với sự suy thoái kinh tế, khả năng sụp đổ của đồng nội tệ, sự tháo chạy của dòng vốn và thiếu thốn hàng hóa do hoạt động nhập khẩu bị thắt chặt. Tổng thống Nga Vladimir Putin sẽ cần xử lý khéo léo vấn đề Ukraine, điều chỉnh quan hệ với phương Tây để xây dựng một nền kinh tế bền vững, đa dạng hơn.

Tuy nhiên cũng không loại trừ trường hợp Moskva phải đối mặt với các vòng trừng phạt mới, đẩy nền kinh tế tới khó khăn hơn nữa và thậm chí có thể gây bất ổn chính trị, dẫn tới những vấn đề trầm trọng hơn không chỉ cho kinh tế Nga mà toàn khu vực.

Brazil là một nền kinh tế tiềm năng khác song cũng chứa đựng nhiều nhân tố có thể gây bất trắc. Tổng thống tái đắc cử Dilma Rousseff đã bật đèn xanh cho việc sẵn sàng cải thiện năng lực quản lý kinh tế vĩ mô, trong đó phản đối chủ trương tập trung quyền lực. Những lợi ích tiềm tàng của chính sách mới này hiện chưa rõ ràng so với những thiệt hại và hậu quả ngoài mong muốn mà người dân phải gánh chịu. Nhưng nếu thành công, Brazil, cùng với Mexico, có thể sẽ gia nhập đội ngũ các nước ổn định tại Mỹ Latinh trong năm 2015, góp phần giúp khu vực vượt qua được những hiệu ứng bất lợi từ Venezuela, nền kinh tế đang gặp không ít khó khăn do giá dầu giảm.

(Xem thêm: Nga và Brazil - Bộ đôi ảm đạm của BRICs)

Bức tranh kinh tế nhiều màu sắc này cũng được thể hiện qua cách các ngân hàng trung ương trên thế giới điều hành chính sách tiền tệ. Ngân hàng trung ương Mỹ (FED) đã ngừng gói kích cầu dài hạn quy mô lớn và khả năng sẽ bắt đầu tăng lãi suất trong quý 4 của năm tới. Trái lại, Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) sẽ theo đuổi chính sách nới lỏng tiền tệ, và sẽ bơm vào thị trường trong quý đầu tiên của năm 2015 những gói giải pháp mới nhằm cân đối thanh khoản. Trong khi đó, Ngân hàng Nhật Bản dự báo sẽ tiếp tục duy trì chính sách kích thích tiền tệ hòng vực dậy nền kinh tế đã giảm phát suốt thời gian dài.
Theo Tuần Tin Tức

Monday, December 1, 2014

12 bài học kinh doanh từ Starbucks

Năm 1971, một tiệm café được mở tại khu chợ lịch sử Pike Place ở Seattle. Quán café này sau đó đã trở thành tiệm café của thương hiệu café lớn nhất thế giới - Starbucks.

Với hơn 21.000 cửa hàng tại 65 quốc gia, Starbucks hiện là một trong những công ty tăng trưởng nhanh nhất nước Mỹ. Công ty này đã mở rộng mạng lưới từ 425 cửa hàng vào năm 1994 đến 19.767 cửa hàng vào năm 2013.
Theo INC, có 12 bài học kinh doanh mà các doanh nghiệp (DN) có thể học được từ thương hiệu này. 

1. Bám sát sứ mệnh 

Starbucks chỉ có duy nhất sứ mệnh đơn giản là nuôi dưỡng và truyền cảm hứng cho cộng đồng. Starbucks vừa là một người bạn, một ly café và một đồng nghiệp của khách hàng.

Sứ mệnh này đã theo sát công ty trong suốt 4 thập kỷ qua. Định vị bản thân không chỉ là một tiệm café đơn tuần, Starbucks biến các cửa hàng của mình thành nơi để khách hàng có thể tạm trốn khỏi những bộn về của công việc thường nhật. Mặt khác, cửa hàng còn trở thành trung tâm của những cuộc tụ họp bạn bè hoặc đàm phán công việc dành cho các doanh nhân.

Starbucks muốn đưa đến thông điệp rằng, bất kể khách hàng bao nhiêu tuổi, sống ở đâu, làm nghề gì thì đều có chung một trải nghiệm tại Starbucks.

2. Hỏi ý kiến khách hàng
Nếu bạn từng đến những quán Starbucks nằm ngoài địa điểm quen thuộc mình hay đến, bạn có thể sẽ nhận ra rằng nhân viên của quán thỉnh thoảng sẽ hỏi bạn đang tìm kiếm điều gì. Đây là một kỹ thuật đơn giản nhưng vô cùng hiệu quả trong dịch vụ chăm sóc khách hàng mà những người kinh doanh dịch vụ đều biết.


Khi bạn tìm hiểu được nhu cầu tìm kiếm hiện tại của khách hàng, bạn có thể cùng người đó tìm ra những lựa chọn phù hợp cho bản thân. Điều này giúp gia tăng sự gắn kết của khách hàng với DN.

3. Hiểu khách hàng, hiểu cả nhân viên
 
Nhân viên là cánh tay trung gian giúp bạn chuyển tải những giá trị trong dịch vụ đến khách hàng. Vì vậy, bạn cần phải hiểu cả nhân viên của bạn. Khi đã hiểu, bạn sẽ khai thác được những tiềm lực của mỗi nhân viên của mình.


Dòng sản phẩm độc quyền Frappuccino của Starbucks là sáng tạo của một nhân viên tên Dina Campion của Công ty.

4. Hãy sáng tạo
Cửa hàng Starbucks ở New Delhi
Starbucks được xây dựng trên nền tảng gắn kết chặt chẽ với các giá trị cốt lõi ban đầu, song công ty cũng là nơi phát huy mạnh mẽ sự sáng tạo.

Ví dụ, khi nhận ra rằng khách hàng có nhu cầu ngồi lại quán lâu hơn, Starbucks đã bắt đầu cung ứng dịch vị Wifi miễn phí từ năm 2010. Khi nhận ra rằng khách hàng muốn các sản phẩm chế biến tại nhà, Starbucks đẩy mạnh cung ứng bộ café pha sẵn mang tên Via và hệ thống máy pha café Verismo.

Hiện nay, Công ty còn cho phép khách hàng trả tiền qua ứng dụng của iPhone. Đây là công ty đầu tiên áp dụng công nghệ này trong thị trường kinh doanh dịch vụ café tại Mỹ.

Duy trì những yếu tố cốt lõi truyền thống là tốt, nhưng hãy đủ linh hoạt để chấp nhận và chào đón các thay đổi mới để thích nghi với môi trường kinh doanh đang không ngừng thay đổi. 

5. Hãy có trách nhiệm 

Trong cung cấp dịch vụ, thỉnh thoảng chúng ta luôn có những sai lầm, ví dụ ghi nhầm thức uống, tính nhầm hóa đơn... Điều tạo nên khác biệt giữa các đơn vị chính là khả năng nhanh chóng nhận lỗi và sửa sai đối với khách hàng.

Bạn cần đảm bảo là đã tập huấn cho nhân viên đủ linh hoạt để xử lý có trách nhiệm trong các tính huống nhầm lẫn đáng tiếc. 

6. Đi ngược chiều gió 

Bạn sẽ nhận ra rằng Starbucks có mặt ở hầu hết các ngã tư trong những thành phố mà thương hiệu này xuất hiện. Điều này nằm trong một chiến dịch của Starbucks.

Thay vì chỉ tập trung vào những khu vực đông dân cư, những khu vực có xuất hiện đối thủ cạnh tranh, Starbucks chọn có mặt tại tất thảy các ngã tư mà nó có thể thuê được mặt bằng. Điều này có thể gây lên áp lực trong chi phí đầu tư nhưng lại giúp Starbucks hạn chế được tối đa cơ hội của các đối thủ cạnh tranh khác.

Về chiến lược, thỉnh thoảng bạn cần phải "đi ngược chiều gió", làm những điều mà các daonh nghiệp khác không làm. Các quyết định này đầy mạo hiểm nhưng cũng mang lại giá trị lợi nhuận lớn hơn gấp nhiều lần cho DN. 

7. Đẩy mạnh truyền thông mạng xã hội

Hầu hết chúng ta đều đồng ý rằng mạng xã hội đang đóng vai trò quan trọng trong quảng cáo và marketing hiện đại. Tuy nhiên, không phải ai cũng tối ưu hóa được hiệu quả của chúng.

Starbucks trong nhiều năm qua đã kiên trì kể câu chuyện thương hiệu của mình trên Instagram. Mạng xã hội chia sẻ hình ảnh này đã giúp công ty không chỉ quáng bá cả sản phẩm mới mà còn lan tỏa giá trị Starbucks thông qua các hình ảnh khách hàng thưởng thức café tại cửa hàng cùng bạn bè, hoặc kết quả công việc sáng tạo của các nghệ sĩ khi uống café Starbucks.

Bài học của Starbucks không chỉ ở việc quản trị một chiến dịch marketing về mạng xã hội mà còn nằm ở việc chọn mạng xã hội phù hợp để gắn kết với những khách hàng mục tiêu của DN. 

8. Mọi thứ đều quan trọng

 Chú ý hoàn thiện từng chi tiết nhỏ nhất liên quan đến hình ảnh thương hiệu.
Khi một kế toán đề nghị cắt giảm chi phí cho công ty bằng việc thay giấy sử dụng trong nhà vệ sinh từ hai lớp sang một lớp, Starbucks đã từ chối. Vì Starbucks nhận ra rằng việc làm mỏng đi tờ giấy vệ sinh sẽ đối lập với hình ảnh một "thương hiệu sang trọng với giá phải chăng" mà công ty đề ra. 

9. Chọn đúng đối tác

Trong nhiều năm kinh doanh, Starbucks có lượng đối tác khổng lồ để mở rộng mạng lưới. Ví dụ, Starbucks đã hợp tác với cửa hàng bán sách nổi tiếng thế giới là Barnes & Noble vào năm 1993 để cung ứng café tại các cửa hiệu sách của thương hiệu này.

Gần đây, thương hiệu này lại hợp tác với Apple cho phép khách hàng có thể trả tiền mua một ca khúc họ vừa nghe trong quán café từ iTunes.

Công ty cũng liên kết với các tổ chức như Hội chữ thập đỏ Mỹ, Global Green USA, và Save the Children trong các chiến dịch thực hiện trách nhiệm xã hội của DN.

Tùy vào mục tiêu đề ra mà DN cần chọn đúng đối tác phù hợp trong từng lĩnh vực. Hợp đồng hợp tác nên mang đến lợi ích tương xứng cho cả hai bên. 

10. Nhất quán trong kinh doanh

 Đây là yếu tố quan trọng để duy trình sự trung thành của khách hàng với thương hiệu. Nếu bạn mang đến cho khách hàng một trải nghiệm độc đáo bằng dịch vụ của mình trong lần đầu tiên sử dụng, họ sẽ mong đợi được như vậy trong những lần sau.

Starbucks đảm bảo chất lượng của mọi sản phẩm cung ứng đều đồng nhất tại mọi cửa hàng chi nhánh của công ty. 

11. Địa phương hóa sản phẩm
Cửa hàng Starbuck mang phong cách châu Âu ở Amsterdam

Bên cạnh giữ chất lượng đồng nhất, điều quan trọng trong mô hình kinh doanh chuỗi là bạn phải địa phương hóa các sản phẩm của mình cho phù hợp với từng vị trí đặt cửa hiệu kinh doanh. Đối với Starbucks, một ly café sữa ở mọi khu vực bờ biển là như nhau, nhưng tùy mỗi nơi lại có những cải biến cho phù hợp thị hiếu khách hàng khu vực.

Starbucks nhấn mạnh vào hình ảnh một thương hiệu café địa phương hơn là mang tính quốc gia. Điều này hoàn toàn phù hợp với tiêu chí mang đến trải nghiệm thân thuộc cho mỗi người dùng của thương hiệu. 

12. Chọn nhà lãnh đạo phù hợp 

Vào năm 2007, doanh thu của Starbucks bị sụt giảm mạnh. Là người lãnh đạo, Howard Schultz đã nhận ra rằng Công ty đã đi lệch ra khỏi định hướng ban đầu.
"Tối đa hóa lợi nhuận đã trở thành mục tiêu chính trong kinh doanh, trong khi mục tiêu của Starbucks là tối đa hóa trải nghiệm cá nhân cho khách hàng", ông cho biết.

Giải pháp của Schultz trong thời điểm đó là tập hợp 10.000 quản lý của tất cả các cửa hàng về một hội nghị tổ chức suốt 4 ngày tại New Orleans. Trong khoảng thời gian này, Schultz đã xác lập lại mục tiêu, truyền cảm hứng và đặt ra các thách thức cho các nhân viên. Kết quả là 10.000 quản lý này khi trở về đã tạo nên làn sóng thay đổi trong phong cách phục vụ khách hàng. Đến năm 2013, lợi nhuận quay trở lại với Starbuckss.

Điều này cho thấy tầm quan trọng của một nhà lãnh đạo sáng suốt, và chấp nhận thay đổi sẽ kịp thời giải cứu DN khỏi thất bại.